| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM KHU VỰC 4 – CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 115/2026/HSST Ngày: 13 - 7 - 2026 NHÂN DANH |
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Kiệt
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Thái Ánh Trinh
2. Bà Lê Thị Xuân Hiền
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huỳnh Như –Thư ký Toà án nhân dân
Khu vực 4 - Cần Thơ.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Cần Thơ tham gia phiên toà:
Bà Mạc Thị Thư - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 7 năm 2026, tại tru sơ Toa án nhân dân khu vực 4 - Cần Thơ tiên hành xét xử sơ thẩm công khai vu án hình sự thu lý số: 114/2026/HSST ngày 24 tháng 6 năm 2026, theo Quyêt định đưa vu án ra xét xử số: 721/2026/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 6 năm 2026, đối với bị cáo:
Họ và tên: Mai Đức T; tên gọi khác: không; Giới tính: nam; Sinh ngày 08/12/1998; Nơi sinh: thành phố Cần Thơ. Nơi thường trú: Khu vực L, phường T, thành phố Cần Thơ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Đảng, đoàn thể: không. Con ông: Mai Đức T1, sinh năm 1978; Con bà: Huỳnh Ngọc N, sinh năm 1981; Em ruột có 01 người, sinh năm 2012; Tiền án: Không.
Nhân thân, tiền sự:
+ Ngày 03/5/2018, sử dung trái phép chất ma túy, bị Công an quận N – thành phố Cần Thơ xử phạt vi phạm hành chính, số tiền phạt 750.000 đồng.
+ Ngày 15/6/2020, sử dung trái phép chất ma túy, bị Toa án nhân dân quận Thốt Nốt – thành phố Cần Thơ ra Quyêt định áp dung biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sơ cai nghiện bắt buộc thời hạn 12 tháng, theo Quyêt định số 51/QĐ-TA ngày 11/8/2020.
+ Ngày 19/7/2021, sử dung trái phép chất ma túy, bị Ủy ban nhân dân phường T - quận T áp dung biện pháp giáo duc tại phường thời hạn 03 tháng. Số hồ sơ 13CQ0821/8150306.
+ Ngày 27/8/2022, sử dung trái phép chất ma túy, bị Công an phường T - quận T xử phạt vi phạm hành chính, số tiền phạt 1.500.000 đồng, theo Quyêt định số 0012533/QĐ-XPHC ngày 05/9/2022.
+ Ngày 15/12/2023, sử dung trái phép chất ma túy, bị Công an phường T, quận T xử phạt vi phạm hành chính, số tiền phạt 1.500.000 đồng.
+ Ngày 07/01/2024, Sử dung trái phép chất ma túy, bị Toa án nhân dân quận Thốt Nốt – thành phố C ra Quyêt định đưa vào cơ sơ cai nghiện bắt buộc thời hạn 20 tháng, theo Quyêt định số 58/QĐ-TA ngày 09/4/2024. Chấp hành xong ngày 26/10/2025.
Bị can bị tạm giam từ ngày 01/4/2026 đên nay, tại Phân trại tạm giam Cờ Đỏ, Trại tạm giam số 1 Công an thành phố C. Có mặt.
Người làm chứng: Chị Trương Thị Bích L – sinh năm 1991
Cư trú: Ấp V, xã V, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt.
NỘI DUNG VU ÁN:
Qua các tài liêu co trong hô sơ vu án và quá trinh xet hoi, tranh luân tại phiên toa, nội dung vu án đươc tom tăt như sau: Nhận được tin báo của người dân, vào lúc khoảng 18 giờ ngày 06/02/2026, Công an phường T, thành phố Cần Thơ tiên hành test chất ma tuý trong cơ thể của Mai Đức T, kêt quả T dương tính với chất ma tuý loại methamphetamine. Cơ quan điều tra tiên hành thu mẫu nước tiểu của Mai Đức T để trưng cầu giám định. Tại Kêt luận giám định số 689/KL-KTHS ngày 12/02/2026 của Phong K Công an thành phố C, kêt luận: chất lỏng màu vàng gửi giám định tìm thấy chất ma tuý, loại methamphetamine. Qua điều tra, Mai Đức T khai nhận vào khoảng 12 giờ ngày 05/02/2026, Mai Đức T có nhu cầu sử dung ma tuý, trung thuê một người nam (không rõ họ tên, địa chỉ) chạy xe mô tô chơ T đên khu vực gần Cầu C thuộc khu vực L, phường T, thành phố Cần Thơ. Tại đây, T đi gặp người phu nữ tên L (Trương Thị Bích L) hỏi mua ma tuý với giá 200.000 đồng (ma tuý đá). Sau khi mua được ma tuý, T đi ra Cầu C thuê người chạy xe mô tô khách chơ T về nhà tại Khu V, phường T, thành phố Cần Thơ, T đổ ma tuý lên miêng giấy bạc lấy từ gói thuốc lá, rồi bật lửa hơ ma tuý để sử dung. Đên ngày 06/02/2026, T bị Công an phường T nghi vấn mời về tru sơ tiên hành test ma tuý, kêt quả T dương tính với chất ma tuý (loại methamphetamine). Đồng thời qua điều tra, T và Ly khai nhận trong khoảng thời gian từ ngày 02/02/2026 đên ngày 05/02/2026, T đã mua ma tuý do L bán 03 lần để sử dung cá nhân.
Trước đó, Mai Đức T bị Toa án nhân dân quận Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ ra Quyêt định đưa vào cơ sơ cai nghiện bắt buộc thời hạn 20 tháng, theo Quyêt định số 58/QĐ ngày 09/4/2024, chấp hành xong ngày 26/102025. Đên ngày 29/10/2025, Mai Đức T bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường T, thành phố Cần Thơ ra Quyêt định số 114/QĐ-UBND quản lý sau cai nghiện ma tuý tại nơi cư trú, thời hạn 02 năm kể từ ngày 29/10/2025 đên ngày 29/10/2027. Trong thời gian bị quản lý sau cai nghiện, Mai Đức T lại tiêp tuc sử dung trái phép chất ma tuý như trên. Tại Cáo trạng số 133/CT-VKSKV4 ngày 22/6/2026, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Cần Thơ, truy tố Mai Đức T về tội "Sử dung trái phep chất ma tuý" theo điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, năm 2025.
Tại phiên toa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố. Kiểm sát viên thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị:
- Về trách nhiêm hinh sự: Áp dung: điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Mai Đức T từ 02 (hai) năm đên 02 (hai) năm 06 (sáu) tù.
Hình phạt bổ sung: Không áp dung.
- Về vât chứng: Do không thư giữ được nên không đề cập xử lý.
* Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHÂN ĐINH CỦA HỘI ĐÔNG XET XƯ:
Trên cơ sơ nội dung vu án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vu án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyêt định tố tung của Cơ quan điều, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tuc quy định của Bộ luật Tố tung hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toa không có người nào khiêu nại về hành vi, quyêt định của Cơ quan tiên hành tố tung, người tiên hành tố tung. Do đó, các hành vi, quyêt định tố tung của Cơ quan tiên hành tố tung, người tiên hành tố tung đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Trong điều tra và tại phiên toa, bị cáo Mai Đức T đã thừa nhận hành vi phạm tội, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bán ma tuý là Trương Thị Bích L và phù hợp với các chứng cứ khác được thu thập trong quá trình điều tra.
Như vậy có cơ sơ xác định vào ngày 05/02/2026, Mai Đức T có hành vi sử dung trái phép chất ma tuý. Đên ngày 06/02/2026, Công an phường T, thành phố Cần Thơ nghi vấn và tiên hành test chất ma tuý trong cơ thể của Mai Đức T, kêt quả T dương tính với chất ma tuý loại methamphetamine. Cơ quan điều tra tiên hành thu mẫu nước tiểu của Mai Đức T để trưng cầu giám định. Tại Kêt luận giám định số 698/KL-KTHS ngày 12/02/2026 của Phong K Công an thành phố C, kêt luận: chất lỏng màu vàng gửi giám định tìm thấy chất ma tuý, loại methamphetamine.
Trước đó, Mai Đức T bị Toa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ ra Quyêt định đưa vào cơ sơ cai nghiện bắt buộc thời hạn 20 tháng, theo Quyêt định số 58/QĐ ngày 09/4/2024, chấp hành xong ngày 26/102025. Đên ngày 29/10/2025, Mai Đức T bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường T, thành phố Cần Thơ ra Quyêt định số 114/QĐ-UBND quản lý sau cai nghiện ma tuý tại nơi cư trú, thời hạn 02 năm kể từ ngày 29/10/2025 đên ngày 29/10/2027. Trong thời gian bị quản lý sau cai nghiện, Mai Đức T lại tiêp tuc nhiều lần mua ma tuý về để sử dung cá nhân.
Hành vi mà bị cáo thực hiện đã trực tiêp xâm phạm đên chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Bị cáo là người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiêp. Do đó, việc truy tố, xét xử bị cáo về tội “Sử dung trái phep chất ma túy”, theo điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, năm 2025 là đúng người, đúng tội.
[3] Xét thấy, tình hình tội phạm về ma tuý ngày càng diễn biên phức tạp, đối tượng phạm tội và sử dung ma tuý phổ biên ơ nhiều thành phần, độ tuổi. Hậu quả từ việc sử dung trái phép chất ma tuý gây ra là rất nguy hiểm đối với xã hội, không những có tác hại đên sức khoẻ, người nghiện ma tuý con dễ lâm vào ảo giác, làm nhiều hành động nguy hiểm cho người khác. Bản thân bị cáo từng nhiều lần sử dung trái phép chất ma tuý bị xử phạt hành chính, 02 lần đi cai nghiện bắt buộc, nhận thức được vấn đề này nhưng khi chấp hành cai nghiện xong về địa phương trong thời gian bị quản lý sau cai nghiện lại tiêp tuc sử dung ma tuý. Bị cáo khai mua ma tuý của L về sử dung 03 lần là phù hợp với lời khai của L nên bị cáo phải chịu tình tiêt tăng nặng phạm tội 02 lần trơ lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Do đó, cần phải xử phạt nghiêm minh để răn đe, giáo duc bị cáo và phong ngừa chung trong xã hội. Khi lượng hình, xét thấy bị cáo thành khẩn trong khai báo nên được hương tình tiêt giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử có giảm cho bị cáo một phần hình phạt.
[4] Về hình phạt bổ sung: Không áp dung đối với bị cáo.
[5] Về vật chứng: Không có thu giữ nên không đề cập xử lý.
[6] Về một số vấn đề khác: Đối với Trương Thị Bích L, đã bán ma tuý cho bị cáo, hiện đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra khơi tố về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” trong vu án khác. [7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm ngàn đông) theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên, Hội đồng xét xử;
QUYẾT ĐINH:
Tuyên bố: Bị cáo Mai Đức T phạm tội “Sử dung trái phep chất ma túy”.
1. Về trách nhiệm hình sự:
Áp dung: điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, năm 2025;
+ Xử phạt bị cáo Mai Đức T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam (01/4/2026).
+ Hình phạt bổ sung: không áp dung.
2. Về án phí: Áp dung Điều 136 của Bộ luật Tố tung hình sự năm 2015; Nghị quyêt số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016;
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (hai trăm ngàn đông).
3. Về kháng cáo: Áp dung Điều 331, 333 Bộ luật Tố tung hình sự năm 2015;
Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐÔNG XET XƯ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND TP . Cần Thơ; - VKSND TP . Cần Thơ; - THADS TP . Cần Thơ; - VKSND Khu vực 4 - Cần Thơ; - CATP Cần Thơ (Phong HSNV); - Bị cáo…; - Lưu HS . Nguyễn Văn Kiệt | Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà |