vanban.org

Bản án 115/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 20/05/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

p dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Tuyên bố: Bị cáo Lê Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Xử phạt: Bị cáo Lê Thanh T 04 (Bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 22/12/2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn T - Tàng trữ trái phép chất ma tuý - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? p dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6 - NINH BÌNH Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 115/2026/HS-ST
Ngày 20 tháng 5 năm 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Văn An.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Quốc Tuấn và ông Nguyễn Văn Kiệm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Mạnh Toàn - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 5 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - N sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 76/2026/TLST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 106/2026/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2026 đối với bị cáo:

Lê Thanh T, sinh năm 1987, tại tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, phường D, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T1 và bà Hoàng Thị M; có vợ là Lê Thị G và 02 con (lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2019); tiền án: Không; tiền sự: Ngày 10/3/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/12/2025 và chuyển tạm giam từ ngày 31/12/2025 đến nay; có mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

+ Người làm chứng: Ông Đinh Hồng H và ông Nguyễn Đức T2; đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 21 tháng 12 năm 2025, Tổ công tác của Công an phường T, tỉnh Ninh Bình đang làm nhiệm vụ tuần tra tại tổ dân phố N, phường T, tỉnh Ninh Bình. Tổ công tác phát hiện đối tượng Lê Thanh T, sinh năm 1987, trú tại tổ dân phố Đ, phường D, tỉnh Ninh Bình có biểu hiệu nghi vấn nên yêu cầu kiểm tra hành chính. Quá trình làm việc Tổ công tác phát hiện, thu giữ trong lòng bàn tay phải của Lê Thanh T đang cất giữ 02 gói giấy bạc màu vàng, mở ra bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục. Tại chỗ, T khai nhận chất bột màu trắng dạng cục là ma túy, loại Heroine, cất giữ mục đích để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lê Thanh T, thu giữ 02 gói giấy bạc màu vàng chứa chất bột màu trắng dạng cục, được niêm phong trong phong bì ký hiệu “QT01” và làm thủ tục bàn giao Lê Thanh T cùng vật chứng về trụ sở làm việc để điều tra theo thẩm quyền. Ngày 22/12/2025, công an đã thu mẫu nước tiểu của Lê Thanh T đựng trong chai nhựa được niêm phong ký hiệu “NT01” theo quy định của pháp luật.

* Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở, đồ vật của Lê Thanh T tại tổ dân phố Đ, phường D, tỉnh Ninh Bình, Cơ quan cảnh sát điều tra (sau đây viết tắt là: CSĐT) - Công an tỉnh N không phát hiện thu giữ đồ vật, tài sản có liên quan đến vụ án.

* Tại Bản kết luận giám định số 167/KL-KTHS ngày 29/12/2025 của Phòng K - Công an tỉnh N kết luận: “Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,251g (Không phẩy hai trăm năm mươi mốt gam), loại Heroine (H)”.

* Tại Bản kết luận giám định số 168/KL-KTHS ngày 29/12/2025 của Phòng K - Công an tỉnh N kết luận: “Không tìm thấy chất ma túy thường gặp trong mẫu nước tiểu ký hiệu NT01 (Ghi thu của Lê Thanh T, sinh năm 1987, trú tại tổ dân phố Đ, phường D, tỉnh Ninh Bình) gửi giám định”. Mẫu vật đã sử dụng hết để giám định.

Về nguồn gốc chất ma túy, theo Lê Thanh T khai: Vào khoảng 20 giờ ngày 21 tháng 12 năm 2025, T đang đi bộ trên đoạn đường gần nhà tại tổ dân phố Đ, phường D thì gặp bạn nghiện tên là Nguyễn Văn T3, sinh năm 1980, nhà ở xã C, thị xã D, tỉnh Hà Nam (nay là phường D, tỉnh Ninh Bình). T3 điều khiển chiếc xe mô tô kiểu dáng Sirius màu đen, không nhớ biển số. T3 rủ T đi mua ma túy về sử dụng, T nói: “Nhưng em không có tiền”, T3 nói: “Đi, tao có tiền”. Sau đó, T3 điều khiển xe mô tô chở T đến khu vực tổ dân phố N, phường T, tỉnh Ninh Bình. Tại đây, T3 bảo T xuống xe đứng đợi rồi T3 điều khiển xe mô tô đi khoảng 15 phút quay lại đưa cho T 02 gói giấy bạc màu vàng và nói: “Cầm lấy”. Biết đó là 02 gói ma túy, loại Heroine nên T cầm trong lòng bàn tay phải. Sau đó, T3 chở T đi tìm nơi sử dụng ma túy thì bị lực lượng Công an yêu cầu kiểm tra hành chính, T3 dừng xe lại, T xuống xe. Lợi dụng sự sở hở của lực lượng Công an, T3 điều khiển xe mô tô phóng bỏ chạy thoát. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, kết quả xác định tại phường D, tỉnh Ninh Bình không có người tên Nguyễn Văn T3 có lý lịch và đặc điểm như Lê Thanh T khai nhận.

* Về vật chứng: Đối với số Heroine được Phòng K - Công an tỉnh N hoàn trả sau giám định được niêm phong trong phong bì số 167/KTHS ghi “Mẫu vật hoàn trả QT01” được chuyển đến Phòng thi hành án dân sự khu vực 6, tỉnh Ninh Bình phục vụ công tác xét xử và thi hành án.

* Quá trình điều tra Lê Thanh T đã khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện.

Tại bản cáo trạng số 143/CT-VKSKV6-MT ngày 01 tháng 4 năm 2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình đã truy tố Lê Thanh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, theo quy định tại điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Tại phiên toà sơ thẩm hôm nay:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - N: Giữ nguyên quan điểm một phần truy tố đối với bị cáo; rút một phần truy tố không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự. Sau khi phân tích, đánh giá toàn diện vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử (Sau đây viết tắt là: HĐXX): p dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025): Xử phạt Lê Thanh T từ 03 năm 06 tháng tù đến 04 năm tù, đồng thời đề xuất hướng xử lý vật chứng của vụ án.

- Bị cáo Lê Thanh T đã thừa nhận và khai báo toàn bộ động cơ, mục đích và diễn biến hành vi cất giấu trái phép chất ma tuý của bản thân vào ngày 21/12/2025 đúng như nội dung bản cáo trạng đã mô tả. Bị cáo xác định rõ việc cất giấu số ma tuý trên là để sử dụng cho bản thân, không có bất kỳ mục đích nào khác; bị cáo không có ý kiến tranh luận, bào chữa hay khiếu nại gì, bản thân đã nhận thức rõ sai phạm và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Đều thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục và căn cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì đối với các hành vi, quyết định tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong các giai đoạn tố tụng đã thực hiện và ban hành đều hợp pháp, tuân thủ các nguyên tắc tố tụng, cũng như đảm bảo việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm được giao theo quy định.

Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát rút một phần truy tố không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, xác định rõ bị cáo phạm tội không nhằm mục đích thu lời bất chính, bản thân không có thu nhập, không có tài sản riêng, nên đảm bảo căn cứ chấp nhận.

Đối với người tham gia tố tụng là người làm chứng vắng mặt tại phiên toà nhưng trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của họ, được cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với diễn biến nội dung vụ án được chứng minh tại biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, sơ đồ vụ án, vật chứng thu giữ, kết luận giám định cũng như chính lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, ngoài ra còn phù hợp với lời khai của người tham gia tố tụng khác cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập theo trình tự luật định, phản ánh đúng sự thật khách quan của vụ án.

Như vậy, đủ cơ sở pháp lý để kết luận: Hồi 21 giờ ngày 21/12/2025, tại tổ dân phố N, phường T, tỉnh Ninh Bình, Lê Thanh T đang có hành vi cất giữ trái phép 0,251 (Không phẩy hai trăm năm mươi mốt) gam chất ma tuý, loại Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị lực lượng Tổ công tác Công an phường T, tỉnh Ninh Bình phát hiện, bắt quả tang.

Hành vi nêu trên của Lê Thanh T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về hình phạt:

- Về hình phạt chính: Hành vi phạm tội của Lê Thanh T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với chất ma tuý, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, làm xã hội mất ổn định. Bản thân bị cáo là người đã có gia đình ổn định, nhưng lại thiếu ý thức trong rèn luyện, luôn thể hiện lối sống tự do, buông thả nên đã sa vào nghiện ngập ma túy. Trước đó, ngày 10/3/2023 bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng, chấp hành xong ngày 05/3/2025 nhưng vẫn không lấy đó làm bài học kinh nghiệm để tu sửa bản thân, lại tiếp tục tái nghiện, dẫn đến phạm tội, cho thấy rõ sự coi thường pháp luật của bị cáo. Vì vậy, cần thiết phải áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người tốt, cũng như tác dụng phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.

+ Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

+ Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa Lê Thanh T đều thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân, phần nào thể hiện sự ăn năn hối cải trước pháp luật. Đây là tình tiết giảm nhẹ bị cáo được hưởng theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. HĐXX sẽ cân nhắc để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo yên tâm cải tạo, sớm tái hòa nhập cộng đồng, cũng như thấy được tính nhân đạo của pháp luật đối với người phạm tội.

Xét thấy cần tiếp tục tạm giam đối với bị cáo để đảm bảo thi hành án hình sự nên quyết định tạm giam Lê Thanh T 45 ngày, kể từ ngày tuyên án theo Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Về hình phạt bổ sung: Xét điều kiện, hoàn cảnh, tình hình kinh tế hiện nay và mục đích phạm tội của bị cáo nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo Điều 35 và khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự như quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là phù hợp pháp luật.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (Một) Phong bì dán kín, niêm phong có số 167/KTHS ghi “Mẫu vật hoàn trả QT01”, mặt sau có ba dấu của Phòng K - Công an tỉnh N hoàn trả sau giám định, đây là chất Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu và tiêu huỷ.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Về các vấn đề khác:

- Đối với người thanh niên tên Nguyễn Văn T3 đã đưa ma túy cho Lê Thanh T như bị cáo đã khai (T khai Nguyễn Văn T3 nhà ở xã C, thị xã D, tỉnh Hà Nam cũ nay là phường D, tỉnh Ninh Bình). HĐXX thấy do chỉ có duy nhất lời khai của bị cáo, ngoài ra không có bất cứ tài liệu, chứng cứ khác để chứng minh. Mặt khác, qua xác minh Cơ quan CSĐT xác định tại phường D- Ninh Bình không có ai có lý lịch, đặc điểm như T khai nhận. Do dó, không có căn cứ điều tra, xác minh làm rõ để xử lý người này theo quy định của pháp luật là phù hợp, nên HĐXX không đề cập.

- Đối với việc Lê Thanh T khai nhận, khoảng 01 tháng trước T có sử dụng ma túy, loại Heroine tại nhà ở thuộc tổ dân phố Đ, phường D, tỉnh Ninh Bình. Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh N đã thu giữ mẫu nước tiểu của Lê Thanh T và tiến hành giám định, kết quả không tìm thấy chất ma túy trong mẫu nước tiểu đã thu giữ của T. Ngoài lời khai của Lê Thanh T, không còn tài liệu chứng cứ nào khác để chứng minh, nên Cơ quan điều tra không có đủ cơ sở để xử lý đối với T về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” quy định của pháp luật là phù hợp. Do đó, HĐXX không đề cập.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. p dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Tuyên bố: Bị cáo Lê Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Thanh T 04 (Bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 22/12/2025.

2. p dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu và tiêu huỷ: 01 (Một) Phong bì số 167/KTHS, mặt trước phong bì có ghi “Mẫu vật hoàn trả QT01” của Phòng K - Công an tỉnh N.

(Vật chứng có đặc điểm, tình trạng, số hiệu được ghi trong biên bản giao, nhận vật chứng lập ngày 06/4/2026 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tình N và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 6 - Ninh Bình).

3. Căn cứ Điều 135, 136, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

- Bị cáo Lê Thanh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

- n xử công khai sơ thẩm, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ