vanban.org

Bản án 115/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: anh Trần Văn N được ly hôn anh Cao Thị L.

Về con chung: anh Trần Văn N và chị Cao Thị L có 01 con chung là: Trần Cao C, sinh ngày 08/8/2009. Sau ly hôn, giao con chung cho anh N là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với chị L cho đến khi có yêu cầu hoặc có thay đổi khác. Sau ly hôn, ch… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "lh"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: anh Trần Văn N được ly hôn anh Cao Thị L.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 12 - HÀ NỘI
Bản án số: 115/2025/HNGĐ-ST

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Ngày 15 tháng 12 năm 2025
(V/v: Tranh chấp Hôn nhân gia đình)

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thiện

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Viết Côi; Bà Nguyễn Thị Vân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Tưởng Thị Lan - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 12 - Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 - Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 364/2025/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 10 năm 2025 về “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 96/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 11 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 76/2025/QĐHPT-HNGĐ ngày 28 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Anh Trần Văn N, sinh ngày 01/8/1983; Số CCCD: xxxxxxxxxxxx, do Cục trưởng cục CSQLHCVTTXH cấp ngày 21/7/2022.

* Bị đơn: Chị Cao Thị L, sinh ngày 05/10/1986; Số CCCD: xxxxxxxxxxxx.

Đều HKTT: thôn NX, xã HX, TP. Hà Nội.

(Các đương sự đều vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn, biên bản lấy lời khai cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, anh Trần Văn N là nguyên đơn trình bày: anh và chị Cao Thị L tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Vạn Thái, huyện Ứng Hoà (nay là xã HX), thành phố Hà Nội năm 2008. Vợ chồng chung sống đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn căng thẳng, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không tìm được tiếng nói chung, mặc dù gia đình hai bên đã khuyên nhủ nhiều lần nhưng không thành. Chị L đã bỏ đi khỏi nhà anh và sống ly thân với anh 4 năm nay, không ai quan tâm đến ai. Nay anh nhận thấy anh hết tình cảm với chị L, anh không muốn tiếp tục cuộc sống như này nên anh làm đơn xin được ly hôn với chị L để ổn định cuộc sống mới.

Về con chung: anh chị có 01 con chung: Trần Cao C, sinh ngày 08/8/2009. Khi ly hôn, anh có nguyện vọng được nuôi con chung và không yêu cầu chị L phải cấp dưỡng nuôi con cho anh.

Về tài sản chung, nợ chung: không có, anh không yêu cầu toà án giải quyết.

Bị đơn chị Cao Thị L: Không có ý kiến trình bày gì.

Tại biên bản xác minh tại UBND xã HX, Công an xã HX thể hiện:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Cao Thị L, sinh năm 1986 tự nguyện kết hôn với anh Trần Văn N, sinh năm 1983 tại UBND xã Vạn Thái, huyện Ứng Hoà, (nay là xã HX), thành phố Hà Nội, ngày 04/9/2008; Sau khi kết hôn chị L chuyển về sinh sống tại nhà anh N ở thôn NX, xã HX, thành phố Hà Nội. Về mâu thuẫn vợ chồng chị L anh N cụ thể như nào chính quyền địa phương không nắm được. Chỉ biết thông qua dư luận quần chúng nhân dân, chị L hiện không còn sống cùng anh N nữa, chị L sống ly thân với anh N khoảng mấy năm nay. Chị L và anh N có 01 con chung: Trần Cao C, sinh ngày 08/8/2009. Nay anh N có đơn xin ly hôn chị L, quan điểm chính quyền địa phương: đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Về nơi cư trú của chị L: chị L có nơi đăng ký thường trú tại thôn NX, xã HX, thành phố Hà Nội. Chị L làm nghề lao động tự do nên thỉnh thoảng thấy có mặt ở địa phương nhưng chính quyền địa phương không rõ thời điểm trở về của chị L là khi nào, cũng không biết địa chỉ nơi làm việc hay nơi cư trú mới của chị L do chị L không khai báo.

* Tại phiên tòa, nguyên đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Hà Nội phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thực hiện đầy đủ các quy định về tố tụng dân sự như tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho các đương sự, các đương sự được trình bày quan điểm, tiến hành hòa giải theo đúng quy định nhưng không hòa giải được vì lý do bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai. Hội đồng tiến hành xét xử vụ án đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết cho anh N được ly hôn với chị L; giao con chung cho anh N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục; chị L không phải cấp dưỡng nuôi con cho anh N cho đến khi có sự thay đổi mới hoặc có đề nghi khác; anh N nộp án phí ly hôn theo quy định của pháp luật;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiªn cøu c¸c tµi liÖu cã trong hå s¬ vô ¸n ® îc thÈm tra t¹i phiªn Toµ vµ c¨n cø vµo kÕt qu¶ tranh luËn t¹i phiªn toµ, ý kiÕn cña c¸c ® ¬ng sù, Héi ®ång xÐt xö nhËn ®Þnh:

Về tố tụng: anh Trần Văn N làm đơn ly hôn và đã đóng dự phí ly hôn theo đúng quy định của pháp luật. Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình, chị Cao Thị L là bị đơn có địa chỉ cư trú tại: thôn NX, xã HX, TP. Hà Nội, do đó Tòa án nhân dân khu vực 12 - Hà Nội tiến hành thụ lý, giải quyết theo đúng quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự là đúng thẩm quyền.

Tòa án đã triệu tập hợp lệ chị L đến Tòa để hòa giải cũng như tham gia phiên tòa nhưng chị L vắng mặt không có lý do; anh N xin vắng mặt, nên Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự theo đúng quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: anh Trần Văn N và anh Cao Thị L kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Vạn Thái, huyện Ứng Hoà (nay là xã HX) thành phố Hà Nội, ngày 04/9/2008 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân theo anh N trình bày là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không tìm được tiếng nói chung, phong tục lối sống của hai vợ chồng cũng quá khác nhau; mặc dù gia đình hai bên đã khuyên nhủ nhiều lần nhưng vẫn không thể hàn gắn được, hai vợ chồng chị cũng sống ly thân đã dược gần 4 năm, không ai quan tâm đến ai. Anh N cương quyết xin được ly hôn với chị L; chị L không đến Tòa án làm việc trình bày quan điểm.

Hội đồng xét xử thấy, mâu thuẫn giữa vợ chồng chị L và anh N là căng thẳng, có thời gian sống ly thân dài, hôn nhân giữa hai vợ chồng đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên xử chấp nhận đơn ly hôn của anh N, xử cho anh N được ly hôn với chị L là phù hợp với quy định của khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Chị L và anh N có 01 con chung là Trần Cao C, sinh ngày 08/8/2009. Hiện tại, con chung đang ở với anh N. Anh N có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung; chị L không đến Toà án trình bày quan điểm. Do đó, để đảm bảo sự phát triển tâm sinh lý, môi trường sống của con chung được ổn định, theo nguyện vọng của đương sự và thực tiễn cuộc sống, HĐXX giao con chung cho anh Trần Văn N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục; anh N không yêu cầu chị L phải cấp dưỡng nuôi con nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với chị L cho đến khi có thay đổi mới hoặc có đề nghị khác là phù hợp với quy định pháp luật.

Về tài sản và công nợ chung: Anh N không yêu cầu đề nghị Tòa giải quyết; chị L không đến Tòa án trình bày quan điểm, nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết trong bản án này.

Về án phí và quyền kháng cáo: Anh N phải nộp án phí; nguyên đơn và bị đơn đều có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 39 Bộ luật Dân sự (năm 2015) và căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81; Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình (năm 2014); khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự (năm 2015); Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

1. Về hôn nhân: anh Trần Văn N được ly hôn anh Cao Thị L.

2. Về con chung: anh Trần Văn N và chị Cao Thị L có 01 con chung là: Trần Cao C, sinh ngày 08/8/2009. Sau ly hôn, giao con chung cho anh N là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục.

Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với chị L cho đến khi có yêu cầu hoặc có thay đổi khác. Sau ly hôn, chị L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

“Cha, mÑ kh«ng trùc tiÕp nu«i con l¹m dông viÖc th¨m nom ®Ó c¶n trë hoÆc g©y ¶nh h ëng xÊu ®Õn viÖc tr«ng nom, ch¨m sãc, nu«i d ìng, gi¸o dôc con th× ng êi trùc tiÕp nu«i con cã quyÒn yªu cÇu Toµ ¸n h¹n chÕ quyÒn th¨m nom con cña ng êi ®ã.Cha mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con”.

3. Về án phí: anh Trần Văn N phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0012844 ngày 21 tháng 10 năm 2025 tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 12 – Hà Nội.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn đều có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết tại UBND xã (phường) nơi cư trú đối với người vắng mặt./. N¬i nhËn:

Cỡ chữ