vanban.org

Bản án 115/2024/HSST — Hình sự

TAND TP. PLeiku, tỉnh Gia Lai Tuyên án 25/06/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Siu H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Về điều luật áp dụng: Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Siu H 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/12/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Siu H'S - Mua bán ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Siu H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ P
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 115/2024/HSST
Ngày: 25/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thu Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Doãn Thị Lệ.

2. Bà Tô Thị Lành.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Síu - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Bà Cao Thảo Nga- Kiểm sát viên sơ cấp.

Ngày 25/6/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 118/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 122/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Siu H, sinh ngày 18/3/2004 tại Gia Lai; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở trước khi bị bắt: Làng P, xã BH, thành phố P, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Căn cước công dân số: 064304008650; Học vấn: 10/12; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Siu M - sinh năm 1983 và bà H’A - sinh năm 1985; chung sống với Y Đ - sinh năm 2000 (chưa đăng ký kết hôn); có 01 con sinh năm 2020; Tiền sự, tiền sự: Không; Bị tạm giữ từ ngày 19/12/2023 đến ngày 28/12/2023, sau đó bị tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P. Có mặt.

Người tham gia tố tụng:

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Ngô T Â, sinh năm: 2005. Nơi cư trú: Thôn ĐĐ, xã ĐSM, huyện Đ Đ, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

Bà H’A - sinh năm 1985. Nơi cư trú: Làng P, xã BH, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

Người chứng kiến: Ông Dương Chí T, sinh năm: 1996. Nơi cư trú: Thôn Đ B, xã BH, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do thiếu tiền tiêu xài nên Siu H đã nảy sinh ý định mua ma tuý về bán lại kiếm lời. Qua các mối quan hệ xã hội, Siu H có số điện thoại của một đối tượng tên Ngọc Kenvin (không rõ nhân thân, lai lịch) là người có bán ma tuý. Vào khoảng 12 giờ ngày 18/12/2023, Ngọc Kenvin gọi điện thoại cho Siu H nói Siu H mua ma tuý của Ngọc rồi Ngọc sẽ cho Siu H nợ tiền, sau khi bán hết số ma tuý thì trả tiền mua ma tuý cho Ngọc, còn tiền lời do bán ma tuý có được sẽ chia đôi (Siu H một nửa, Ngọc một nửa). Siu H đồng ý và nói Ngọc đến để ma tuý tại trước nhà Siu H thuộc làng P, xã BH, thành phố P. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, Siu H đi ra phía trước nhà thì thấy tại bụi cây ven đường có 01 hộp thuốc lá, Siu H đến lấy mở ra thấy bên trong có 01 bì nilon ma tuý và có 01 hộp giấy bên trong đựng 01 cân tiểu ly. Sau đó, Siu H cất số ma tuý trên và cân tiểu ly trong người rồi mang vào nhà. Tại nhà, Siu H đã sử dụng cân tiểu ly phân chia số ma tuý để vào 03 (ba) bì nilon nhỏ và 01 (một) đoạn ống nhựa màu xanh, để có ai hỏi mua thì bán kiếm lời. Siu H dự định bán 02 bì nilon ma tuý và 01 đoạn ống nhựa chứa ma tuý với giá 1.000.000 đồng; 01 bì ma tuý còn lại, Siu H dự định sẽ phân chia thành các gói nhỏ và sẽ bán mỗi gói 300.000 đồng. Vào khoảng 23 giờ 50 phút cùng ngày, Ngô T Â (sinh ngày 16 tháng 10 năm 2005; trú tại thôn ĐĐ, xã ĐSM, huyện Đ Đ, tỉnh Gia Lai) gọi điện thoại cho Siu H hỏi mua ma tuý với giá 520.000 đồng; Siu H đồng ý và yêu cầu Ân chuyển tiền trước. Sau đó, Siu H hẹn Ân đến trước khu vực nhà Siu H tại làng P, xã BH, thành phố P, Siu H sẽ mang ma tuý ra giao cho Ân. Vào lúc 23 giờ 55 phút ngày 18/12/2023, khi Siu H đang đứng trước nhà của Siu H chờ Ngô T Â đến lấy ma tuý, thì bị lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy - Công an tỉnh Gia Lai phối hợp với lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy - Công an thành phố P bắt quả tang, thu giữ vật chứng, gồm: 02 bì nilon chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng cùng 01 đoạn ống nhựa màu xanh bên trong chứa chất rắn màu trắng dạng tinh thể (đã được niêm phong theo quy định, ghi số 1) và sau đó, Siu H đã tự nguyện vào nhà lấy ra 01 bì nilon bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng (đã được niêm phong theo quy định, ghi số 2) và 01 cân tiểu ly (mặt sau có chữ “QC PASS 500g/0.01g”) để giao nộp cho Cơ quan Công an. Ngoài ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Gia Lai còn thu giữ của Siu H số tiền 400.000 đồng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone X màu trắng (kèm thẻ sim; mặt sim có dãy số 8984 04800 09222 12369).

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Do muốn có tiền để tiêu xài, nên Siu H đã nảy sinh ý định mua ma tuý về bán kiếm lời. Qua các mối quan hệ xã hội, Siu H có được số điện thoại của đối tượng tên Ngọc Kenvin có bán ma tuý. Vào khoảng 12 giờ ngày 18/12/2023, Ngọc Kenvin gọi điện thoại cho Siu H thoả thuận việc Siu H bán ma tuý cho Ngọc, số tiền lời sẽ chia đôi; Siu H đồng ý và hẹn Ngọc giao ma túy ở khu vực trước nhà Siu H tại làng P, xã BH, thành phố P. Khoảng 13 giờ cùng ngày, Siu H đã nhận được 01 bì nilon chứa ma tuý loại Methamphetamine và 01 cân tiểu ly, rồi mang về nhà Siu H tại làng P, xã BH, thành phố P. Sau đó, Siu H đã sử dụng cân tiểu ly phân chia bì ma tuý vào 03 bì nilon và vào 01 đoạn ống nhựa màu xanh, với mục đích để bán. Vào khoảng 23 giờ 50 phút ngày 18/12/2023, khi Siu H đang ở tại nhà thì Ngô T Â gọi điện thoại hỏi mua ma tuý với giá 520.000 đồng và Ân đã chuyển số tiền 520.000 đồng vào tài khoản của Siu H. Sau đó, Siu H hẹn Ân đến trước khu vực nhà Siu H tại làng P, xã BH, thành phố P để nhận ma tuý.

Vào lúc 23 giờ 55 phút ngày 18/12/2023, khi Siu H đang đứng chờ Ngô T Â đến lấy ma tuý tại khu vực trước nhà Siu H ở làng P, xã BH, thành phố P, tỉnh Gia Lai, thì bị lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy - Công an tỉnh Gia Lai phối hợp với lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy - Công an thành phố P bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng.

Tại Cáo trạng số 134/CTr-VKS ngày 23 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai đã truy tố Siu H về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Điểm i Khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị: Áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 Bộ luật hình sự 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017; Xử phạt bị cáo Siu H từ 07 năm 03 tháng đến 07 năm 09 tháng tù.

Qua trưng cầu giám định, tại Kết luận giám định số 23/KL-KTHS ngày 27/12/2023 của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Gia Lai, kết luận: “Chất màu trắng dạng tinh thể trong 02 (hai) bì nilon và trong 01 (một) đoạn ống nhựa màu xanh, được niêm phong trong bì công văn ghi “Số 1” (mô tả tại mục Mẫu cần giám định) đều là ma túy, loại Methamphetamine, tổng khối lượng 5,4496 gam. Chất màu trắng dạng tinh thể trong 01 (một) bì nilon được niêm phong trong bì công văn ghi “Số 2” (mô tả tại mục Mẫu cần giám định) là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 3,3084 gam”.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về Bản kết luận giám định số 23/KLGĐ ngày 27/12/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai.

Ý kiến của người tham gia tố tụng:

- Anh Dương Chí T (Lời khai tại hồ sơ): Anh chứng kiến việc bị cáo bị bắt quả tang khi đang tàng trữ ma túy và xác nhận khi bị bắt quả tang bị cáo khai tàng trữ là ma túy để bán.

- Bà H’A: bà ở cùng nơi cư trú với bị cáo, việc bị cáo mua ma túy để bán bà không biết.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết lỗi, xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa như lời khai của người chứng kiến, biên bản khám xét và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo đã mua ma túy để bán. Lượng ma túy thu được của bị cáo là 8,758 gam chất ma túy loại Methamphetamine; hành vi của bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điểm i Khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi , bổ sung năm 2017.

Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai đối với bị cáo về tội danh và điều luật như cáo trạng đã nêu là có căn cứ và đúng pháp luật.

. Ma tuý là chất thuộc phạm vi độc quyền quản lý của Nhà nước. Hành vi mua bán trái phép chất ma túy là nguy hiểm cho xã hội, hành vi này không chỉ tác động có hại trực tiếp đối với những người sử dụng mà còn đối với cộng đồng xã hội. Hành vi này gieo rắc hiểm họa ma túy, kéo theo nhiều tệ nạn xã hội khác, ảnh hưởng đến sự bình yên của cộng đồng, trật tự, an toàn xã hội. Hành vi của bị cáo phải nghiêm trị để răn đe và phòng ngừa chung đối với tội phạm.

. Xét tính chất mức độ hành vi của bị cáo: Bị cáo đủ nhận thức, hiểu rõ tác hại của ma túy, nhưng vì muốn có tiền tiêu xài, bị cáo đã mua ma túy để bán. Do đó, cần quyết định đối với bị cáo mức án nghiêm khắc để bị cáo cải tạo bản thân là cần thiết.

. Xét bị cáo quá trình điều tra và tại phiên toà đã thành khẩn khai báo, là người dân tộc thiểu số, nhận thức pháp luật hạn chế, có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét áp dụng các tình tiết tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi quyết định mức hình phạt đối với bị cáo.

. Hành vi phạm tội của bị cáo chưa thu lợi cho nên không cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Đối với đối tượng nam tên Ngọc Kevin ở thành phố P mà bị cáo khai là người đã bán ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra do bị cáo không biết rõ họ tên, địa chỉ của đối tượng trên, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P chưa có căn cứ xử lý là phù hợp.

Đối với Ngô T Â là người mua ma túy của bị cáo sử dụng, nhưng chưa kịp nhận ma tuý từ Siu H thì bị phát hiện. Quá trình điều tra, xác định, Ngô T Â khai nhận có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý vào ngày 15/12/2023 tại khu vực rẫy cà phê thuộc phường Yên Thế, thành phố P, tỉnh Gia Lai và đã sử dụng hết. Do đó, ngày 21/12/2023, Công an phường Yên Thế, thành phố P đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính (phạt 1.500.000đ đồng) đối với Ngô T Â.

Đối với bà H’AYẾT ở cùng nhà nhưng việc bị cáo tàng trữ ma túy tại nhà thì bà AYẾT không biết; Nguyễn Văn Tuấn, việc Ân nhờ chuyển tiền vào tài khoản của Siu H để mua ma tuý thì Tuấn không biết không xử lý Tuấn và bà H’Ayết là phù hợp.

. Xử lý vật chứng: 01 (Một) điện thoại di động hiệu IphoneX kèm sim số là phương tiện bị cáo dùng để liên lạc mua, bán ma túy cần tịch thu sung công; Số tiền 920.000 đồng, trong đó: 400.000 đồng là tài sản của bị cáo không liên quan hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo, 520.000 đồng là tiền bán ma túy cần tịch thu sung công; số ma túy còn lại sau giám định trong bì công văn ghi số 23/PC09 ngày 27/12/2023 và 01 cân tiểu ly là những vật cấm tàng trữ, lưu hành và phương tiện phạm tội không còn giá trị sử dụng cần tiêu hủy.

. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Siu H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

2. Về điều luật áp dụng:

- Áp dụng Điểm i Khoản 2 Điều 251; Điều 38; Điều 50; Điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017;

- Căn cứ các Điểm a và c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí, lệ phí Tòa án;

3. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Siu H 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/12/2023.

4. Các vấn đề khác:

Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu sung công:

+ 01 (Một) điện thoại di động hiệu IphoneX màu trắng - đen kèm sim số (mặt sau sim có dãy số 8984 04800 09222 12369). (Điện thoại cũ đã qua sử dụng, Chi cục THADS TP.P không kiểm tra tình trạng bên trong);

+ Tịch thu sung công số tiền 520.000 đồng (năm trăm năm hai mươi ngàn đồng) tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

- Trả lại cho bị cáo: 400.000 đồng (bốn trăm ngàn đồng) tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

- Tịch thu tiêu huỷ:

+ 02 (hai) bì công văn dán kín cùng ghi số 23/PC09 ngày 27/12/2023 dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Gia Lai (có chữ ký và họ tên của Trần Thu Ng, Trần Đoàn T, Bùi Sĩ Th);

+ 01 cân tiểu ly (mặt sau có chữ “QC PASS 500g/0,01g);

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 29 tháng 5 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P).

- Về án phí: Buộc bị cáo Siu H phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ