- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒ A Á N NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG TỈNH THÁ I BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 115/2024/HS-ST Ngày 28/10/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH
- THnh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Kiên Trung.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hiển và bà Cao Thị Hưng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Hoàn– Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Đông Hưng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng tham gia phiên tòa:
Ông Trần Mạnh Thắng- Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 10 năm 2024, ta ̣i trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng,
tinh Thái Binh xét xử sơ thẩm công khai vu ̣ án hinh sự thu ̣ lý số 116/2024/TLST-̉
̀
̀
HS ngày 10 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 115/2024/QĐXXST- HS ngày 16 tháng 10 năm 2024 đối vớ i bi ̣ cáo:
Trần Văn H, sinh năm 19xx tại Thái Bình; nơi cư trú: Thôn DT, xã PL,
huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn V (đã chết, ông V được tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhì và Huân chương chiến sĩ giải phóng hạng ba) và bà Phạm Thị T (đã chết, bà T được tặng thưởng Huy chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất); có vợ là Đoàn Thị P, sinh năm 1975 và có 02 con, con lớn sinh năm 1997, con nhỏ sinh năm 2002: tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tham gia nghĩa vụ quân sự từ tháng 3/1988 đến tháng 01/1991 xuất ngũ; bị bắt tạm giữ từ ngày 27/6/2024 đến ngày 03/7/2024 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đông Hưng (có mặt tại phiên tòa).
* Người chứng kiến:
- Anh Trần Văn B, sinh năm 1976; nơi cư trú: Thôn DT, xã PL, huyện Đông
Hưng, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).
- Ông Phạm Văn Q, sinh năm 1965; nơi cư trú: Thôn T, xã ML, huyện Đông
Hưng, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).
- Ông Phạm Văn Điệu, sinh năm 1970; nơi cư trú: Thôn T, xã ML, huyện
Đông Hưng, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Do nghiện ma túy nên khoảng 11 giờ 30 phút ngày 27/6/2024, Trần Văn H
đi bộ sang nhà anh Trần Văn B là em trai của H để nhờ anh B chở sang xã ML, huyện Đông Hưng, anh B không biết việc H đi mua ma túy. Khi đến nơi, H bảo anh B dừng xe đứng đợi ở đầu đường còn H đi bộ vào đường dẫn ra cánh đồng. H đã gặp và mua của một người đàn ông không quen biết khoảng 30 tuổi, đang đứng ở mé đường ruộng 200.000 đồng được 01 gói giấy bằng kim loại màu trắng, bên trong có chứa ma túy, loại Heroine. H cầm gói ma túy ở lòng bàn tay phải rồi quay lại chỗ anh B đứng đợi rồi bảo anh B chở về nhà. Khoảng 12 giờ 15 phút cùng ngày, khi anh B và H đi trên trục đường Thôn T, xã ML thì bị tổ công tác của Công an huyện Đông Hưng và Công an xã ML kiểm tra thu giữ tại lòng bàn tay phải của H 01 gói ma túy H vừa mua, H khai là Heroine, mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản phạm tội quả tang và niêm phong quản lý vật chứng theo quy định.
Tại bản kết luận giám định số 1001/KL- KTHS ngày 01/7/2024 của Phòng Kỹ
thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình, kết luận: Mẫu vật gửi giám định là ma tuý, loại Heroine có khối lượng 0,1556 gam (Không phẩy một nghìn năm trăm năm mươi sáu gam).
- Tại phiên tòa: Bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của
bản thân như nội dung Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng đã truy tố. Bị cáo không có khiếu nại gì về hành vi và quyết định tố tụng của người tiến Hnh tố tụng và cơ quan tiến Hnh tố tụng.
- Tại cơ quan điều tra, người chứng kiến khai:
+ Anh Trần Văn B khai: Trưa ngày 27/6/2024, anh trai của anh là Trần Văn
H nhờ anh chở xe mô tô sang xã ML, huyện Đông Hưng nói là đi có việc, anh không biết là H đi mua ma túy. Khi anh chở H về đến trục đường Thôn T, xã ML thì tổ công tác của Công an huyện Đông Hưng và Công an xã ML kiểm tra thu giữ tại lòng bàn tay phải của H 01 gói ma túy, H khai là Heroine, H vừa mua của một người đàn ông không quen biết khoảng 30 tuổi, đứng ở mé đường ruộng với giá 200.000 đồng, mục đích mua để sử dụng cho bản thân.
+ Ông Phạm Văn Q và ông Phạm Văn Đ đều khai: Khoảng 12 giờ 15 phút
ngày 27/6/2024, ông và ông Đđã chứng kiến việc Công an huyện Đông Hưng và Công an xã ML kiểm tra thu giữ tại lòng bàn tay phải của Trần Văn H 01 gói giấy bằng kim loại màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục, H khai là Heroine, H vừa mua của một người đàn ông không quen biết khoảng 30 tuổi, đứng ở mé đường ruộng xã ML với giá 200.000 đồng, mục đích để sử dụng cho bản thân.
Bản cáo tra ̣ng số 115/CT-VKSĐH ngày 10 tháng 10 năm 2024 của Viê ̣n kiểm
sát nhân dân huyện Đông Hưng truy tố bị cáo Trần Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng giữ quyền công tố tại
phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hô ̣i đồng xét xử :
- Á p du ̣ng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51;
Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 06 tháng tù; thời hạn tù tính ngày tạm giữ 27/6/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Ngoài ra còn đề nghị xử lý về vật chứng và án phí.
Bị cáo không tranh luận gì với lời luận tội của Kiểm sát viên.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo ân hận về hành vi phạm tội của bản thân, bị
cáo mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về Hnh vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đông
Hưng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến Hnh tố tụng, người tiến Hnh tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến Hnh tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung bản cáo trạng, phù
hợp với chính lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra và được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an xã ML lập hồi 13 giờ 15 phút ngày 27/6/2024; Biên bản niêm phong vật chứng; Bản ảnh vật chứng; Bản kết luận giám định số 1001/KL-KTHS ngày 01/7/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình; Lời khai của người chứng kiến là anh Trần Văn Bình, ông Phạm Văn Q và ông Phạm Văn Đ; cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Trần Văn H là người có năng lực trách
nhiệm hình sự, nhận thức đầy đủ về tính chất nguy hiểm cũng như hậu quả của Hnh vi do mình thực hiện, nhưng H vẫn cố ý tàng trữ trái phép trên người 0,1556 gam Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân. Trần Văn H đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng đã truy tố.
Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua
bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
…
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11
có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
…
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000
đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm Hnh nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo thấy:
hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quy định quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, là nguyên nhân làm phát sinh và gia tăng các loại tội phạm, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Hậu quả mà bị cáo gây ra phải chịu sự trừng trị của pháp luật, đây là bài học cho bị cáo và những người mắc nghiện ma túy, phạm các tội về ma túy.
Khi quyết định hình phạt, xét thấy:
- Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
- Trong quá trình tố tụng bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo có thời gian tham
gia nghĩa vụ quân sự và có bố đẻ và mẹ đẻ được Nhà nước tặng thưởng Huân, huy chương kháng chiến nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo, tình
tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử quyết định mức hình phạt tương xứng để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người lương thiện và để giáo dục, phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ ma túy mục đích để sử dụng cho bản
thân; khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ không lớn; bị cáo lao động tự do, thu nhập không ổn định. Vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vâ ̣t chứ ng vụ án: Số ma túy thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định là
vật NH nước cấm tàng trữ, cần tịch thu tiêu hủy.
Về các vấn đề có liên quan đến vụ án:
- Quá trình điều tra và tại phiên tòa không xác định được người bán ma túy
cho bị cáo là ai, do đó không có căn cứ để điều tra, xử lý.
- Anh Trần Văn B là người chở bị cáo H sang xã ML nhưng không biết là
H đi mua ma túy nên anh B không bị xử lý về hình sự.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp
luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn luật
định.
Vi cá c lẽ trên;
̀
́
QUYÊT ĐI ̣NH:
1. Tuyên bố : Bi ̣ cáo Trần Văn H pha ̣m tô ̣i “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều
38; Điều 50 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Trần Văn H 01 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ
27/6/2024.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự.
Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tuyên tịch thu tiêu hủy toàn bộ số Heroine thu giữ của Trần Văn H được hoàn
lại sau giám định, niêm phong trong phong bì số 1001/KL- KTHS ngày 01/7/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình.
(Vật chứng trên đã được bàn giao sang Chi cục Thi Hnh án dân sự huyện
Đông Hưng ngày 15/10/2024).
3. Về á n phi: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 23
́ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV;
Bị cáo Trần Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bi ̣ cáo được quyền kháng cáo trong thờ i ha ̣n 15 ngày
kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
̀
̉ Nơi nhâ ̣n:
| - Bị cáo; - VKSND H.Đông Hưng; - VKSND tỉnh Thái Bình; - TAND tỉnh Thái Bình; - Chi cục THADS H.Đông Hưng; - Công an H.Đông Hưng; - Sở tư pháp tỉnh Thái Bình; - Lưu hồ sơ vụ á n, cơ quan. | TM. HỘI ĐÔNG XÉ T XỬ SƠ THÂM Thẩ m phá n – Chủ to ̣a phiên tòa (đã ký) Lê Kiên Trung |