vanban.org

Bản án 115/2024/HSPT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 09/04/2024 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 09/04/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo c a b cáo Chu Bùi Y, giữ nguyên Bản án h nh sự sơ th m số 132/2023/HS-ST ngày 22/12/2023 c a Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

Xử phạt b cáo Chu Bùi Yên T3 chung thân về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, b cáo b bắt tạm giam từ ngày 05/7/2023. Áp dụng Ngh quy t số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 c a Quốc hội quy đ nh về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Chu Bùi Y - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo c a b cáo Chu Bùi Y, giữ nguyên Bản án h nh sự sơ th m số 132/2023/HS-ST ngày 22/12/2023 c a Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
  • Căn cứ chính? Điều 52 Bộ luật H nh sự; Điều 251 Bộ luật H nh sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng h nh sự
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 115/2024/HSPT
Ngày: 09-4-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Đinh Phước Hoà

Các thẩm phán:

ông Trần Quốc Cường

ông Phạm Ngọc Thái

- Thư ký phiên tòa: bà Văn Thị Mỹ Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: ông Đoàn Minh Lộc, Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 4 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng và điểm cầu thành phần trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk. Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng mở phiên tòa trực tuy n x t xử phúc th m công khai vụ án h nh sự thụ lý số 58/2024/TLPT-HS ngày 25 tháng 01 năm 2024 đối v i b cáo Chu Bùi Y về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Do c kháng cáo c a b cáo đối v i Bản án h nh sự sơ th m số 132/2023/HSST ngày 22/12/2023 c a Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

- B cáo c kháng cáo

Chu Bùi Y (Tên gọi khác: Không), sinh năm 1988, tại thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: F L, phường A, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh; Gi i tính: nam; Quốc t ch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Buôn bán; Tr nh độ học vấn: 09/12; Con ông: Chu Bùi B và bà Nguyễn Th L; B cáo c vợ là Đỗ Huỳnh Tuy t P, sinh năm 1988 (đã ly hôn); B cáo c 02 con, con l n sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2009;

Tiền án: Tại bản án h nh sự sơ th m số 40/2021/HS-ST, ngày 29/6/2021, Tòa án nhân dân huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh, xử phạt Chu Bùi Y 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đ n ngày 18/01/2023 chấp hành xong án phạt tù, chưa được xoá án tích.

Nhân thân: Tại bản án h nh sự sơ th m số 136/2006/HSST, ngày 31/8/2006, Tòa án nhân dân Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh, xử phạt Chu Bùi Y 01 năm 03 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Đ n ngày 25/01/2007 chấp hành xong án phạt tù, đã được xoá án tích.

B cáo b bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/7/2023 đ n nay, c mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho b cáo: Ông Cao Anh S - Luật sư thuộc Công ty L1, Đoàn Luật sư tỉnh Đ; đ a chỉ: Số C N, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. C mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu c trong hồ sơ vụ án và diễn bi n tại phiên tòa, nội dung vụ án được t m tắt như sau:

Phạm Ngọc T và Chu Bùi Y là người nghiện chất ma túy, đều c hộ kh u thường trú tại thành phố Hồ Chí Minh. Qua quan hệ xã hội, Y quen một người tên T1 ở thành phố Hồ Chí Minh và c sử dụng chất ma túy v i người này vài lần, người này gi i thiệu cho Y một người tên K ở thành phố B, tỉnh Đắk Lắk c nhu cầu mua ma túy. Thông qua người bạn gái tên Đoàn Th Mỹ D th Phạm Ngọc T bi t Chu Bùi Yên . Ngày 01/7/2023, Y điện thoại cho T n i “c ông anh ở Đắk Lắk muốn mua ma túy đá” bảo T c ma túy th mang lên Đắk Lắk bán ki m tiền tiêu sài. T đồng ý nên điện thoại cho người tên T2 (nhà ở G, tên tuổi và đ a chỉ cụ thể không rõ) qua số điện thoại 0967.506.305 để đặt vấn đề hỏi mua khoảng 40.000.000 đồng đ n 50.000.000 đồng ma túy đá và thuốc lắc th được T2 đồng ý bán và báo giá 120.000 đồng/01 viên thuốc lắc, 25.000.000 đồng/01 lạng ma túy đá, khi bán được th trả tiền cho T2 sau (T khai trư c đây T đã mua chất ma túy c a người này nhiều lần để sử dụng). Sáng ngày 04/7/2023 người tên T2 hẹn T đ n Cầu C nằm trên đường Q, quận G để nhận ma túy, khi T đ n điểm hẹn và gọi điện thoại cho T2 th T2 n i T lấy túi giấy c chứa ma túy mà T2 đã để sẵn trên thành cầu. Sau khi lấy ma túy T mang về cất giấu tại chỗ ở đ a chỉ A N, ấp I, xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi trao đổi và được T đồng ý t m mua chất ma túy, khuya ngày 02/7/2023 Y đ n xe khách từ thành phố Hồ Chí Minh đ n thành phố B, sáng ngày 03/7/2023 th thuê phòng 103 nhà nghỉ T4, đ a chỉ số B T, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk để ở và gọi điện cho người tên K đ n chơi (K là người cần mua chất ma túy). Khoảng 14 giờ ngày 03/7/2023 T gọi điện thoại cho Y thông báo đã c chất ma túy đồng thời chốt giá cả mua bán ma túy v i người tên K, cụ thể: 38.000.000 đồng/01 lạng ma túy đá và 200.000 đồng/01 viên thuốc lắc, hẹn sáng ngày 04/7/2023 sẽ lên thành phố B. Khoảng 10 giờ sáng ngày 04/7/2023 T gọi điện thuê xe ô tô biển kiểm soát 1G - 258 c a anh Huỳnh An K1 để chở T cùng Đoàn Th Mỹ D và Nguyễn Tuấn A (là 02 người bạn c a T) đi từ thành phố Hồ Chí Minh đ n thành phố B v i giá 4.200.000 đồng. Khi Huỳnh An K1 lái xe đ n đ n th T xách theo 01 túi giấy, quai màu xanh đựng chất ma túy, r D và Tuấn A đi chơi cùng. D, Tuấn A, K1 không bi t T mang theo chất ma túy đi bán. Đ n khoảng 17 giờ 15 phút ngày 04/7/2023, cả nh m đ n nhà nghỉ T4, phường T, thành phố B th T gọi điện thoại cho Y, Y xuống đ n T đưa lên phòng 102 nhà nghỉ T4, khi đi lên phòng T cầm theo một túi giấy c quai màu xanh, còn Y dẫn D vào phòng 103, khi Y sang phòng 102 gặp T th b Công an bắt giữ (cả hai phòng 102 và 103 đều do người tên K thuê trư c đ ) bắt quả tang 02 đối tượng Phạm Ngọc T và Chu Bùi Y, kiểm tra thu giữ trên mặt bàn 01 túi giấy quai màu xanh đựng 01 hộp carton, bên trong hộp carton c 01 b ch nilon màu vàng đựng 05 túi zip chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng và 01 túi zip chứa 99 viên n n màu xanh. T và Y khai nhận đ là ma túy đá và thuốc lắc do T mua từ thành phố Hồ Chí Minh mang lên Đắk Lắk bán ki m lời. Cơ quan Công an tỉnh Đ kiểm tra phát hiện, thu giữ, niêm phong tang vật và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang theo quy đ nh.

Tại bản k t luận giám đ nh số 835/KL-KTHS ngày 12/7/2023 c a Phòng K2 Công an tỉnh Đ, k t luận: Chất rắn dạng tinh thể màu trắng đựng trong 05 túi nylon được niêm phong gửi giám đ nh là ma túy, c tổng khối lượng 176,0460 gam, loại Methamphetamine; 99 viên n n màu xanh đựng trong 01 túi nylon được niêm phong gửi giám đ nh là ma túy, c tổng khối lượng 47,6507 gam, loại Methamphetamine.

Tại Bản án h nh sự sơ th m số 132/2023/HSST ngày 22/12/2023, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã quy t đ nh:

“Tuyên bố bị cáo Chu Bùi Y phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào điểm b khoản 4 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Chu Bùi Y tù chung thân, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ (ngày 05/7/2023).”

Ngày 26/01/2024, b cáo Chu Bùi Y c đơn kháng cáo xin giảm nhẹ h nh phạt.

Tại phiên tòa phúc th m, b cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Luật sư Cao A1 Sáng: B cáo chỉ là đồng phạm giản đơn, b cáo chỉ quen bi t Phạm Ngọc T qua người khác gi i thiệu. T là người trực ti p giao d ch v i người bán ma túy ở thành phố Hồ Chí Minh và người mua ma túy ở Đắk Lắk. Đề ngh Hội đồng x t xử áp dụng tinh thần Ngh quy t số 01/2011/NQ-HĐTP ngày 15/3/2001 c a Hội đồng Th m phán Tòa án nhân dân tối cao, theo ngh quy t trên th lượng ma túy các b cáo mua bán chỉ phải ch u mức h nh phạt 20 năm. Đề ngh Hội đồng x t xử giảm h nh phạt cho b cáo Y.

Đại diện VKS cấp cao tại Đà Nẵng c ý ki n: Quá tr nh giải quy t vụ án, Hội đồng x t xử phúc th m đã thực hiện đúng quy đ nh Bộ luật tố tụng h nh sự. Tòa án cấp sơ th m x t xử b cáo Chu Bùi Y về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Điều 251 Bộ luật h nh sự là đúng người, đúng pháp luật. Mức h nh phạt tù chung thân đối v i b cáo là phù hợp, tại phiên tòa phúc th m b cáo Y không xuất tr nh thêm t nh ti t giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự m i. Đề ngh Hội đồng x t xử căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng h nh sự không chấp nhận yêu cầu kháng cáo giảm h nh phạt c a b cáo Y.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được th m tra tại phiên tòa; căn cứ k t quả tranh luận tại phiên tòa và trên cơ sở xem x t đầy đ toàn diện các chứng cứ, ý ki n c a Kiểm sát viên, tr nh bày c a b cáo, luật sư.

Theo bản án h nh sự sơ th m và tài liệu c trong hồ sơ vụ án, lời khai nhận tội c a b cáo tại phiên tòa phúc th m phù hợp v i lời khai người làm chứng; bản k t luận giám đ nh, Hội đồng x t xử phúc th m thấy c đ cơ sở xác đ nh: Vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 04/7/2023, tại phòng 102 Nhà nghỉ T4, đ a chỉ số B đường T, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an tỉnh Đ bắt quả tang Phạm Ngọc T và Chu Bùi Y c hành vi mang theo 223,6967 gam ma túy loại Methamphetamine, T và Y khai nhận số ma túy trên là do T mua từ Thành phố Hồ Chí Minh rồi mang lên Đắk Lắk để bán ki m lời. Do đ , Tòa án cấp sơ th m xử b cáo Chu Bùi Y về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy đ nh tại điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật H nh sự là c căn cứ, đúng người, đúng tội. B cáo kháng cáo xin giảm h nh phạt.

Ma tuý là hiểm hoạ l n cho toàn xã hội, gây nguy hại cho sức khoẻ, làm suy thoái h a nòi giống, ph m giá con người, phá hoại hạnh phúc gia đ nh, là một trong những nguyên nhân ch y u làm phát sinh tội phạm, tệ nạn xã hội, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đ n trật tự, an toàn xã hội và an ninh quốc gia, do đ cần phải c h nh phạt thật nghiêm khắc m i c tác dụng đấu tranh phòng chống loại tội phạm này.

X t kháng cáo c a b cáo Chu Bùi Y: B cáo nhận thức được sự nguy hại c a ma túy v đã từng b Tòa án nhân dân huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép ma túy”, đ n ngày 18/01/2023 m i chấp hành xong án phạt tù, nhưng b cáo không lấy đ là bài học để tu dưỡng bản thân mà lại ti p tục c hành vi mua bán trái ph p 223,6967 gam ma túy loại Methamphetamine, v i số lượng ma túy này bán cho các con nghiện th gây tác hại vô cùng l n. Tòa án cấp sơ th m khi lượng h nh phạt đã xem x t b cáo c t nh ti t giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự là thành kh n khai báo, nhưng thấy hành vi phạm tội c a b cáo thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, số lượng mua bán ma túy đặc biệt l n và b cáo c t nh ti t tăng nặng trách nhiệm h nh sự là “Tái phạm” để từ đ xử phạt b cáo mức h nh phạt tù chung thân là phù hợp.

Tại phiên tòa phúc th m, b cáo không xuất tr nh thêm t nh ti t giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự m i nên không c căn cứ để chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ h nh phạt c a b cáo Chu Bùi Yên .

Về án phí phúc th m: b cáo Chu Bùi Y phải ch u án phí h nh sự phúc th m.

Các quy t đ nh khác c a bản án sơ th m không c kháng cáo, không b kháng ngh nên c hiệu lực pháp luật.

V các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng h nh sự;

Không chấp nhận kháng cáo c a b cáo Chu Bùi Y, giữ nguyên Bản án h nh sự sơ th m số 132/2023/HS-ST ngày 22/12/2023 c a Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 c a Bộ luật H nh sự.

1. Xử phạt b cáo Chu Bùi Yên T3 chung thân về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, b cáo b bắt tạm giam từ ngày 05/7/2023.

Áp dụng Ngh quy t số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 c a Quốc hội quy đ nh về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án

2. Về án phí: B cáo Chu Bùi Y phải ch u 200.000 đồng án phí h nh sự phúc th m.

3. Các quy t đ nh khác c a Bản án sơ th m không c kháng cáo, kháng ngh như: xử lý vật chứng, án phí sơ th m c hiệu lực pháp luật kể từ ngày h t thời hạn kháng cáo, kháng ngh .

4. Bản án phúc th m c hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ