- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Cà Văn T 16 (Mười sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm gi…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Cà Văn T 16 (Mười sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam là ngày 02/10/2024.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAN PHƯỢNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 115/2024/HS-ST. Ngày: 24 - 12 - 2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAN PHƯỢNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tuyết
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tạ Văn Nhật
Ông Bùi Văn Độ
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Toàn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 115/2024/TL-HSST ngày 04 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 116/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 12 năm 2024, đối với:
- Bị cáo: Cà Văn T, sinh năm 1988; ĐKHKTT: B, xã Chiềng Hoa, huyện Mường La, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cà Văn Pâng, con bà Lò Thị Mòn; có vợ, có 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không; danh bản, chỉ bản số 334 ngày 08/10/2024 của Công an huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội; tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/10/2024 đến nay; bị cáo có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Cà Văn T là: Bà Phạm Ngọc L, Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố Hà Nội; có mặt.
- Người làm chứng: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1991; nơi cư trú: Cụm 9, xã Tân Hội, huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
- 1 -
Khoảng 22 giờ 55 phút ngày 01/10/2024, tại khu vực ngã ba Chợ Gối thuộc Cụm 13, xã Tân Hội, huyện Đan Phượng, Hà Nội, tổ công tác Công an xã Liên Hà phát hiện Cà Văn T (sinh năm 1988; trú tại B, xã Chiềng Hoa, huyện Mường La, tỉnh Sơn La) có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra, Công an xã Liên Hà đã phát hiện và thu giữ trong tay trái của Toải đang cầm 01 chiếc khẩu trang bên trong có 01 túi nilông nhỏ màu trắng, kích thước (02x02) cm chứa 01 viên nén màu hồng và tinh thể màu trắng. Về túi nilông nhỏ màu trắng bị thu giữ, ngay tại nơi kiểm tra Cà Văn T khai là ma tuý (đá và ngựa) do một người phụ nữ tên Hoài (không rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể) đưa cho cầm để cùng sử dụng.
Tại bản kết luận giám định số 7171/KL-KTHS, ngày 11/10/2024 của Phòng PC 09-CATP Hà Nội kết luận: 01 viên nén màu hồng là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,095gam, tinh thể màu trắng là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,118 gam”.
Bản Cáo trạng số 113/CT-VKSĐP ngày 26/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội truy tố Cà Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Cà Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo Cà Văn T là bà Phạm Ngọc L đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo Toải thuộc dân tộc thiểu số, cư trú ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, bị cáo phạm tội lần đầu, hoàn cảnh gia đình còn gặp nhiều khó khăn nên đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố Cà Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Cà Văn T từ 12 đến 15 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với Cà Văn T. Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đan Phượng, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến
- 2 -
hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Tại phiên tòa Cà Văn T khai nhận hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai người làm chứng, phù hợp các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đầy đủ căn cứ kết luận: Khoảng 22 giờ 55 phút ngày 01/10/2024, tại khu vực ngã ba Chợ Gối thuộc Cụm 13, xã Tân Hội, huyện Đan Phượng. Cà Văn T có hành vi cất giấu 0,213 gam ma tuý loại Methamphetamine với mục đích để sử dụng, nhưng chưa kịp sử dụng thì bị Công an xã Liên Hà bắt quả tang. Như vậy hành vi của Cà Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy’ được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự, Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng truy tố bị cáo theo tội danh và Viện dẫn điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
. Hành vi của Cà Văn T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Ma túy là chất gây nghiện có tác hại rất lớn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của người sử dụng. Tệ nạn ma túy là vấn đề nhức nhối của xã hội, đặc biệt trong tình hình hiện nay, là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội và tội phạm hình sự khác, gây mất trật tự trị an xã hội. Vì vậy, cần phải xét xử bị cáo mức hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật hình sự: Không có. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo theo điểm s khoản 1 Điều 51của Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính còn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Xét bị cáo không có nghề nghiệp thu nhập ổn định, không có tài sản nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Cà Văn T.
Đối với người phụ nữ tên là Hoài đưa ma túy cho Cà Văn T. Do Toải không biết họ tên, địa chỉ của người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh, làm rõ để xử lý.
. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 bao gói sau giám định của phòng PCO9- CATP Hà Nội được niêm phong theo qui định của pháp luật.
. Về án phí: Theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 bị cáo không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
- 3 -
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Cà Văn T 16 (Mười sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam là ngày 02/10/2024.
.
2. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bao gói sau giám định của Phòng PC09- CATP Hà Nội được niêm phong theo quy định của pháp luật.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Đan Phượng và Chi cục thi hành án dân sự huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội lập ngày 29/11/2024).
3. Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Cà Văn T không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
4. Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo Cà Văn T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TAND Thành phố Hà Nội; - CA, VKSND huyện Đan Phượng; - CCTHADS huyện Đan Phượng; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. - 4 - | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Tuyết |