- Tranh chấp gì? Tranh chấp đất đai — án dân sự — "Nguyễn Thị Huệ - Lư Văn Hoàng"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm thu nộp quản l và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HẢI TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 115/2024/DS-ST Ngày: 16/12/2024 (V/v tranh chấp quyền sử dụng đất) |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NH N D N HUYỆN ĐÔNG HẢI, TỈNH BẠC LIÊU
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
h m ph n - Ch t a phi n t a Bà Thạch Thị Ngọc Bích.
C c h i th m nh n d n Ông Nguyễn Minh Hoàng và ông Nguyễn Văn Tâm
Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị An là Thư T a án nhân dân huyện Đông Hải t nh Bạc Liêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hải tham gia phiên tòa: Ông Trần Đăng Khoa - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở T a án nhân dân huyện Đông Hải xét xử sơ thẩm công hai vụ án dân sự thụ l số 371/2022/TLST-DS ngày 16 tháng11 năm 2022 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 145/2024/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1975
Địa ch : Ấp H a 2 xã Long Đ, huyện Đông H t nh Bạc Liêu.
Bị đơn: Ông Lư Văn H sinh năm 1963
Bà Nguyễn Thị M sinh năm 1966
Cùng địa ch : Ấp H a 2 xã Long Đ huyện Đông H t nh Bạc Liêu.
Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Nguyễn Văn T sinh năm 1971
2. Chị Nguyễn Thị Như L sinh năm 2008
2. Anh Lư Văn Kh sinh năm 1987
3. Chị Nguyễn Họa M sinh năm 1987
Cùng địa ch : ấp H a 2 xã Long Đ huyện Đông Hải t nh Bạc Liêu.
Chị Nguyễn Họa Mi ủy quyền cho bà Nguyễn Thị M tham gia tố tụng.
4. Sở Tài nguyên và môi trường t nh Bạc Liêu
Địa ch : số 78 đường Lê Duẩn phường 1 thành phố Bạc Liêu t nh Bạc Liêu.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Bình Th – Giám đốc Sở tài nguyên và môi trường t nh Bạc Liêu
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Cao Tài Đ – chi nhánh văn ph ng đăng
đất đai huyện Đông Hải.
(Chị H, ông H, bà M, anh Kh có mặt, chị M, anh Đ chị L vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 18/7/2022, trong qu trình tố tụng và tại phi n t a, chị Nguyễn hị H trình bày:
Nguồn gốc đất hiện nay đang tranh chấp với ông H và bà M là của cha mẹ để lại cho chị chị đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do chị đứng tên đến năm 2003 thì chị sang đất cho ông Phạm Văn Ng; địa ch ấp H a 2 xã Long Đ diện tích chiều dài 55m (sang 02 lần lầu đầu chiều dài 36m lần 2 sang dài 19m từ chữ L đo xuống) (đo từ tim lộ chạy vô) ngang mặt trước 9 4 m ngang phía sau 12m tổng diện tích thì không biết bao nhiêu. Sau khi sang xong thì chị có đến cơ quan chuyên môn xuống đo đạc đất và làm thủ tục sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Phạm Văn Ng xong phần đất c n lại của chị cũng được cấp đổi lại vào năm 2020. Năm 2014 ông Ng sang phần đất diện tích nêu trên cho bà Lâm Ngọc Đ sau đó bà Đ tiếp tục sang đất lại cho vợ chồng ông H và bà M. Khi ông H và bà M sang đất của bà Đ thì chị hông hay biết cũng hông có giáp ranh đất với chị. Trước đây ranh đất giữa chị và ông Ng có trụ đá là ngay cây đước làm ranh đất giữa hai bên năm 2022 có người đã nhổ trụ đá dời đi nơi hác và lấn sang đất của chị nên giữa chị và bà M, ông H phát sinh tranh chấp. Hiện nay phần đất tranh chấp do vợ chồng ông H đang quản l sử dụng. Nay chị yêu cầu ông H và bà M giao trả diện tích đất qua đo đạc của trung tâm ỹ thuật Tài nguyên và môi trường t nh Bạc Liêu là 65 9m2.
Bị đơn ông Lư Văn H và bà Nguyễn Thị M trình bày: Vào năm 2018 vợ chồng ông bà có sang đất của bà Lâm Ngọc Đ diện tích là 527 8m2, sau đó đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do vợ chồng ông bà đứng tên. Sau hi sang đất xong đến năm 2019 thì vợ chồng ông bà cất nhà có cuốc phần đất hiện đang tranh chấp với chị H để làm chỗ chứa nước thải nhưng chị H cũng hông có ngăn cản hay iến gì cả. Đến hoảng năm 2022 thì chị H nói vợ chồng ông bà lấn qua đất của chị H nên phát sinh tranh chấp. Khi sang đất của bà Đ thì bà Đ có ch phần đất và có cặm ranh đất với nhau. Vợ chồng ông bà xác định hông có lấn qua phần đất của chị H, gia đình ông bà sử dụng đúng diện tích đã sang của bà Đ. Nay chị H yêu cầu phải giao trả diện tích đất là 65 9m2 trong đó diện tích 11 8m2 nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do chị H đứng tên thì ông bà đồng trả c n phần đất diện tích 54 1m2 thì vợ chồng ông bà hông đồng trả. Hiện nay phần đất tranh chấp do vợ chồng ông bà anh Lư Văn Kh và chị Nguyễn Họa M đang quản l sử dụng ngoài ra thì hông c n ai khác.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn T thống nhất với lời trình bày của chị H anh xác định trước đây hi sang đất cho ông Ng thì đo từ tim lộ chạy dài ch có 55m nhưng nay ông H và bà M sử dụng nhiều hơn là hoàn toàn hông phù hợp. Yêu cầu T a án xem xét giải quyết theo quy định.
Anh Lư Văn Kh trình bày: Cha mẹ anh nhận chuyển nhượng đất của bà Lâm Ngọc Đ sau đó sử dụng ổn định. Phần đất tranh chấp gia đình anh có cuốc lên làm chỗ chứa nước thải phía chị H hông có sử dụng đất tranh chấp. Nay phần đất qua đo đạc thực tế diện tích 11,8m2 nằm trong giấy chị H gia đình anh đồng trả đối với diện tích 54,1m2 nằm trong giấy của ông H, bà M thì anh hông đồng trả.
Đại diện Viện kiểm s t nh n d n huyện Đông Hải tham gia phi n t a ph t biểu ý kiến
Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán Hội đồng xét xử Thư phiên t a là đúng theo quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật tố tụng của các đương sự là đúng quy định của pháp luật.
Ý kiến về giải quyết vụ n:
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu hởi iện của chị Nguyễn Thị H đối với ông Lư Văn H, bà Nguyễn Thị M.
Ghi nhận sự thỏa thuận của ông H, bà M đồng trả phần đất diện tích 11,8m2 cho chị H, anh Tòng.
Không chấp nhận yêu cầu hởi iện của chị Nguyễn Thị H đối với ông Lư Văn H, bà Nguyễn Thị M yêu cầu trả 54 1m2.
Án phí chi phí thẩm định các đương sự nộp theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau hi nghiên cứu toàn bộ các tài liệu chứng cứ có lưu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên t a và căn cứ vào ết quả tranh luận tại phiên t a trên cơ sở phát biểu của đại diện Viện iểm sát Hội đồng xét xử nhận định nội dung vụ án như sau:
. Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị H hởi iện về tranh chấp đất đai với ông Lư Văn H và bà Nguyễn Thị M; có địa ch : ấp H a 2 xã Long Điền, huyện Đông Hải t nh Bạc Liêu. Căn cứ hoản 9 Điều 26 điểm a hoản 1 Điều 35 Điểm a hoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của T a án nhân dân huyện Đông Hải t nh Bạc Liêu.
. Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu của chị H yêu cầu các đồng bị đơn trả phần đất 65,9 m2 trong đó diện tích 11 8m2 thuộc một phần thửa 290 tờ bản đồ số 30 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do chị Nguyễn Thị H đứng tên diện tích 54 1m2 thuộc một phần thửa 229 tờ bản đồ số 30 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông Lư Văn H, bà Nguyễn Thị M đứng tên; tọa lạc tại ấp H a 2 xã Long Đ, huyện Đông Hải t nh Bạc Liêu.
. Xét nguồn gốc phần đất tranh chấp Hội đồng xét xử nhận thấy:
Phần đất tranh chấp giữa chị H và ông H, bà M có nguồn gốc là của chị H. Năm 2003 chị H sang cho ông Phạm Văn Ng chiều dài 55m ngang 9 4m đo từ tim lộ chạy vô có làm giấy tay với nhau. Năm 2014 bà Cao Thị H (mẹ ông Ng) sang phần đất diện tích nêu trên cho bà Lâm Ngọc Đ sau đó bà Đ tiếp tục sang đất cho vợ chồng ông H, bà M.
Theo chị H xác định vào năm 2010 hi Nhà nước thu hồi đất làm lộ Giá Rai – Gành H thì bà H được nhận tiền bồi thường đất nhưng năm 2014 bà H làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lại hông trừ ra diện tích đất Nhà nước thu hồi nên diện tích trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà H nhiều hơn so với diện tích chị sang cho bà H nhưng chị hoàn toàn hông biết ch đến hi ông H, bà M sử dụng thì chị mới biết đã lấn qua đất của chị.
Theo ông H, bà M xác định năm 2018 ông bà có nhận chuyển nhượng đất của bà Đ diện tích 527,8m2, hi sang đất thì bà Đ có ch ranh đất nhưng hông đo đạc thực tế. Năm 2019 ông bà cất nhà có cuốc phần đất hiện đang tranh chấp với chị H để làm chỗ chứa nước thải chị H hông có ngăn cản.
Để chứng minh cho yêu cầu hởi iện chị H có cung cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do chị Nguyễn Thị H đứng tên tại thửa số 290 tờ bản đồ số 30 được cấp 25/9/2020.
Phía ông H, bà M có cung cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông Lư Văn H, bà Nguyễn Thị M đứng tên tại thửa 229 tờ bản đồ số 30 được cấp năm 2018.
. Quá trình sử dụng đất :
Hội đồng xét xử thấy rằng phần đất tranh chấp ông H, bà M nhận chuyển nhượng từ bà Lâm Ngọc Đ từ năm 2018 sau đó ông bà có cuốc đất lên sử dụng để chứa nước thải phía chị H thấy được nhưng cũng hông ngăn cản hay có
iến gì. Chị H hông có sử dụng phần đất tranh chấp.
Theo chị H xác định phía ông H, bà M sử dụng đã lấn qua đất của chị nhưng qua đo đạc thực tế thì phần đất tranh chấp 54 1m2 nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông H, bà M như vậy ông H, bà M sử dụng đất trong phạm vi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp. Sở Tài nguyên và môi trường cũng có công văn xác định trình tự thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông H, bà M là đúng theo quy định pháp luật.
Chị H hởi iện nhưng chị hông cung cấp tài liệu chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình để làm căn cứ. Thực tế hi đo đạc ch có diện tích 11 8m2 nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của chị H đứng tên, ông H, bà M cũng đồng trả diện tích trên cho chị H nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Đối với yêu cầu ông H, bà M trả diện tích 54,1m2 phần đất này được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông H, bà M nên không có cơ sở chấp nhận yêu cầu hởi iện của chị H. Do đó ch có căn cứ chấp nhận một phần hởi iện của chị H buộc ông H, bà M trả diện tích 11 8m2.
. Về án phí dân sự sơ thẩm hông có giá ngạch: Chị Nguyễn Thị H nộp số tiền 300.000 đồng. Chị Nguyễn Thị H đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu số 0009659 ngày 16/11/2022 được chuyển thu án phí.
Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ phần đất đã chi hết 4.773.000 đồng, chị H đã nộp 1.541.000 đồng, ông H, bà M đã nộp 3.232.500 đồng. Do chấp nhận một phần yêu cầu hởi iện của chị H nên chị H phải chịu số tiền 3.918.000 đồng ông H, bà M phải chịu 854.000 đồng. Chị H đã nộp 1.541.000 đồng nên chị H phải trả cho ông H, bà M số tiền 2.377.000 đồng.
Quan điểm đề xuất của Kiểm sát viên tham gia phiên t a là phù hợp được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
Vì c c lẽ n u tr n,
QUYẾT ĐỊNH :
Căn cứ vào hoản 9 Điều 26; điểm a hoản 1 Điều 35; điểm a hoản 1 Điều 39 ; Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các điều 166, 245, 256 Bộ luật Dân sự;
Điều 95 Điều 293 Luật đất đai năm 2013;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm thu nộp quản l và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1/. Chấp nhận một phần yêu cầu hởi iện của chị Nguyễn Thị H đối với ông Lư Văn H, bà Nguyễn Thị M trả diện tích 11 8m2 thuộc một phần thửa 290 tờ bản đồ số 30.
1.1. Buộc ông Lư Văn H, bà Nguyễn Thị M trả phần đất diện tích 11,8m2 tọa lạc tại ấp Hòa 2 xã Long Đ huyện Đông H t nh Bạc Liêu vị trí ích thước như sau:
+ Hướng Đông giáp phần đất của chị Nguyễn Thị H cạnh dài 18.78m
+ Hướng Tây giáp phần đất của ông Lư Văn H, bà Nguyễn Thị M đang sử dụng cạnh dài 7,21m.
+ Hướng Nam giáp phần đất của chị Nguyễn Thị H đang sử dụng cạnh dài 1,39m
+ Hướng Bắc giáp phần đất của chị Nguyễn Thị H đang sử dụng cạnh dài 0,90m.
2/. Không chấp nhận yêu cầu hởi iện của chị Nguyễn Thị H yêu cầu ông Lư Văn H, bà Nguyễn Thị M trả phần đất diện tích 54 1m2.
3/. Về án phí dân sự sơ thẩm hông có giá ngạch: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn T nộp số tiền 300.000 đồng. Chị Nguyễn Thị H đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu số 0009659 ngày 16/11/2022 được chuyển thu án phí.
Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ buộc chị Nguyễn Thị H, anh Nguyễn Văn T có nghĩa vụ trả cho ông Lữ Văn Hoàng bà Nguyễn Thị M số tiền 2.377.000 đồng.
4./ Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các hoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án c n phải chịu thêm hoản tiền lãi của số tiền c n phải thi hành án theo quy định tại hoản 2 Điều 468 Bộ Luật dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cư ng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công hai, đương sự có mặt tại phiên t a có quyền háng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày ể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên t a có quyền háng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày ể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND t nh Bạc Liêu; - VKSND huyện Đông Hải; - Chi cục THADS huyện Đông Hải; - Các đương sự; - Lưu HS vụ án; | Thạch Thị Ngọc Bích |