- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn D1 phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Hoàng Văn D1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| toµ ¸n nh©n d©n THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ tØnh phó thä | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 115/2023/HSST Ngày 20 tháng 9 năm 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ - TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Hồng Vân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đình Đậu
Ông Đỗ Minh
- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Minh Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì tham gia phiên toà: Ông Phạm Khắc Việt - Kiểm sát viên.
Trong ngày 20/9/2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 127/2023/HSST ngày 06/9/2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 122/2023/QĐXXST-HS ngày 08/9/2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hoàng Văn D1; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 20/9/1988 tại huyện Hoàng Văn Dũng, tỉnh Phú Thọ; Đăng ký hộ khẩu thường trú: khu 1, xã P1, huyện N, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Hoàng Văn L1, sinh năm 1954; Mẹ đẻ: Đỗ Thị V1 (đã chết); Vợ: Đặng Thị A1, sinh năm 1990 (hiện đi lao động tại Đài Loan); Con: có 02 con; lớn sinh năm 2013; nhỏ sinh năm 2018. Tiền án, tiền sự: không
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/6/2023 đến ngày 02/7/2023. Do bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý, không có việc làm ổn định, thường xuyên tụ tập với những đối tượng nghiện trong và ngoài địa bàn gây mất an ninh trật tự, nếu để D1 ở ngoài thì D1 sẽ tiếp tục phạm tội, gia đình và chính quyền địa phương không quản lý được. Nên ngày 30/6/2023, Cơ quan điều tra ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và Lệnh tạm giam đối với D1. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại trại tạm giam - Công an tỉnh Phú Thọ. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 10 giờ 50 phút ngày 23/6/2023, tại khu 7, xã Hy Cương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, tổ công tác Đội điều tra tội phạm về ma tuý – Công an thành phố Việt Trì đang làm nhiệm vụ kiểm tra, phát hiện một người đàn ông có biểu hiện nghi vấn, người này tự khai họ tên là Hoàng Văn D1, sinh ngày 20/9/1988, HKTT: khu 1, xã P1, huyện N. Quá trình kiểm tra D1 tự giác giao nộp từ tay bên phải 01 gói giấy mặt ngoài màu trắng mặt trong màu trắng, có chữ và dòng kẻ, bên trong có chứa chất bột cục màu trắng và khai nhận đây là ma tuý heroine của D1, mục đích để sử dụng cho bản thân. Tại chỗ, tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với D1, niêm phong thu giữ gói ma tuý nói trên, ngoài ra còn thu giữ 01 ĐTDĐ Iphone màu vàng đỏ đã cũ, màn hình bị nứt vỡ số imei 35498307169xxxx kèm sim số 0528.042.xxx.
Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra xét nghiệm ma túy bằng que thử nước tiểu đối với Hoàng Văn D1. Kết quả dương tính, D1 có sử dụng chất ma túy.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Việt Trì ra Quyết định trưng cầu giám định đối với chất bột cục màu trắng đã thu của D1. Tại bản Kết luận giám định số 847/KL-KTHS ngày 26/6/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ kết luận:
“Chất bột, cục màu trắng chứa bên trong 01 gói giấy gửi đến giám định có khối lượng là 0,166gam là ma tuý loại heroine (Heroine)
Heroine (heroine) có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuy và tiền chất”
Hoàn trả lại 0,109 gam heroin là mẫu vật còn lại sau khi giám định cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định, được niêm phong dán kín trong túi niêm phong.
Tại cơ quan điều tra, Hoàng Văn D1 khai nhận nguồn gốc số ma tuý bị thu giữ khi bị bắt quả tang như sau: do bản thân có nhu cầu sử dụng ma tuý nên khoảng 10 giờ 00 phút ngày 23/6/2023, D1 từ nhà đi nhờ xe máy của người qua đường xuống khu vực gần cổng Đền Hùng để tìm mua ma tuý Heroine. Tại đây, D1 gặp một người đàn ông khoảng 40 tuổi, D1 không biết họ tên, địa chỉ cụ thể và hỏi mua được của người này 01gói ma tuý Heroine có đặc điểm là mặt ngoài màu trắng mặt trong màu trắng có chữ và dòng kẻ bên trong có chứa chất bột cục màu trắng là ma tuý heroin với giá 400.000đ. Sau đó, người đàn ông đi đâu làm gì D1 không biết còn D1 cầm gói ma tuý mua được đi tìm nơi sử dụng. Khi D1 vừa đi được một đoạn thì bị tổ công tác kiểm tra, lập biên bản và thu giữ vật chứng như đã nêu trên.
Ngoài ra, D1 còn khai nhận khoảng 18h00 ngày 21/6/2023 tại thị trấn Phong Châu, huyện N, D1 có mua ma tuý của 01 người đàn ông không biết họ tên, địa chỉ cụ thể 01gói ma tuý Heroine với giá 400.000đ. Gói ma tuý này D1 đã sử dụng hết cho bản thân.
Về nguyên nhân, điều kiện động cơ mục đích dẫn đến hành vi phạm tội: Do D1 là người thường xuyên sử dụng trái phép chất ma tuý, nên ngày 23/6/2023 D1 đi mua ma túy về để sử dụng cho bản thân.
Quá trình điều tra, D1 đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Tại bản Cáo trạng số 122/CT-VKSVT ngày 05/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ đã truy tố bị cáo Hoàng Văn D1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017.
Tại phiên tòa,
Bị cáo Hoàng Văn D1 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Do bị cáo là người sử dụng trái phép chất ma túy nên đã mua ma túy về tàng trữ để sử dụng cho bản thân. Đối với các vật chứng bị thu giữ, bị cáo đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố; Sau khi luận tội, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn D1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.
- Xử phạt bị cáo D1 từ 21 (hai mươi mốt) tháng tù đến 24 (hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/6/2023.
- Về hình phạt bổ sung: áp dụng khoản 5 điều 249 BLHS để tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 ĐTDĐ Iphone màu vàng đỏ đã cũ, màn hình bị nứt vỡ số imei 35498307169xxxx.
- Về vật chứng đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tố tụng:
Hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thành phố Việt Trì, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng đã được tống đạt cho bị cáo đúng thời hạn do pháp luật quy định. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Về nội dung:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:
Hồi 10 giờ 50 phút ngày 23/6/2023, tại khu 7, xã Hy Cương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, Hoàng Văn D1 có hành vi tàng trữ trái phép khối lượng 0,166 gam ma túy loại Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác Đội điều tra tội phạm về ma tuý - Công an thành phố Việt Trì kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang thu giữ vật chứng.
Như vậy, Hoàng Văn D1 phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, như cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
…
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”
- Đánh giá tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý mà còn thể hiện sự coi thường bất chấp pháp luật, gây bức xúc trong dư luận quần chúng nhân dân và gây mất trật tự trị an xã hội. Vì vậy, cần phải xử phạt thật nghiêm mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung về tội phạm cho xã hội.
- Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo Hoàng Văn D1 có nhân thân tốt, chưa tiền án, tiền sự. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ đó là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về hình phạt:
Về hình phạt chính: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo biết rõ hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là hành vi trái pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện nhằm mục đích phục vụ bản thân do bị nghiện ma túy. Do đó, cần xử phạt thật nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra thể hiện bị cáo không có việc làm, thu nhập không ổn định, bị cáo không có tài sản riêng gì có giá trị. Nhưng trong vụ án này bị cáo có 01 chiếc ĐTDĐ Iphone màu vàng đỏ đã cũ, màn hình bị nứt vỡ số imei 35498307169xxxx. Vì vậy cần áp dụng khoản 5 Điều 249 để tịch thu sung ngân sách nhà nước.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 0,109 gam chất bột cục màu trắng được đựng trong 01 bì niêm phong số 847/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ trả lại sau khi giám định cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 sim số 0528042387 của bị cáo D1, do không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Về những vấn đề khác:
- Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của D1 ngày 26/7/2023 Công an thành phố Việt Trì đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với D1 bằng hình thức Cảnh cáo. Xét thấy là phù hợp.
- Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho D1 tại khu vực cổng Đền Hùng và người bán ma túy cho D1 tại thị trấn Phong Châu, do D1 không biết họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, ngoài lời khai của D1, không có tài liệu nào khác chứng minh nên Cơ quan điều tra không xác định được. Đối với người qua đường mà D1 đi nhờ xe D1 không biết họ tên, tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ xem xét xử lý. Xét thấy là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
. Xét đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa, là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1, Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội; Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng Hình sự.
1. Tuyên bố: bị cáo Hoàng Văn D1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Hoàng Văn D1 21 (Hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/6/2023.
Về hình phạt bổ sung: áp dụng khoản 5 điều 249 BLHS để tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 ĐTDĐ Iphone màu vàng đỏ đã cũ, màn hình bị nứt vỡ số imei 35498307169xxxx.
2. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu, tiêu hủy 0,109 gam chất bột cục màu trắng được đựng trong 01 bì niêm phong số 847/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ.
- Tịch thu tiêu hủy 01 sim số 0528042387.
Vật chứng trên đang lưu giữ tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt trì, tỉnh Phú Thọ.
3. Về án phí hình sự sơ thẩm:
Buộc bị cáo Hoàng Văn D1 phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Phú Thọ; - VKSND TP. Việt Trì; - Trại tạm giam Công an tỉnh Phú Thọ; - Sở tư pháp tỉnh Phú Thọ; - Công an TP. Việt Trì; - THA HS, DS TP. Việt Trì; - Bị cáo; - UBND xã P1, huyện N tỉnh Phú Thọ. - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phạm Hồng Vân |