- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Lò Văn C, phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 249 , điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN CHÂU TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 115 /2023/HSST. Ngày: 01 - 6 - 2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Bà Lường Thị Hương;
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lý Thị Vinh;
Ông Lò Văn Quốc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mai - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: Bà Đinh Thị Bích Nguyệt - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 123/2023/HSST, ngày 17 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 138/2023/QĐXXST-HS, ngày 19 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:
Lò Văn C; tên gọi khác: Không; sinh năm: 1982, tại xã CL, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản H, xã TM, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; trình độ học vấn: 6/12; nghề nghiệp: Trồng trọt; giới tính: Nam; dân tộc: Thái; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Lò Văn K, sinh năm 1959 và bà Cà Thị N (Lò Thị N), đã chết; bị cáo có vợ: Lò Thị Đ, sinh năm: 1983 và 02 con, lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2008;
Tiền sự: Tại Quyết định số 156/QĐ-TA, ngày 08/11/2019, bị TAND huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với Lò Văn C thời hạn 24 (Hai mươi tư) tháng.
Tiền án: Bản án số 85/2020/HSST, ngày 09/9/2020, của Toà án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La xử phạt Lò Văn C 24 (Hai mươi tư) tháng tù, về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
Nhân thân: Bản án số 127/2004/HSST, ngày 28/12/2004 của Toàn án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La xử phạt Lò Văn C 09 (Chín) tháng tù, về Tội trộm cắp tài sản. Bản án số 88/2006/HSST, ngày 22/9/2006, của Toàn án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La xử phạt Lò Văn C 09 (Chin) tháng tù, về Tội trộm cắp tải sản; Bản án số 22/2008/HSST, ngày 29/2/2008, của Toà án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La xử phạt Lò Văn C 12 (Mười hai) tháng tù, về Tội trộm cắp tài sản. Ngày 15/7/2010, bị UBND huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La ra Quyết định áp biện pháp xử hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc với Lò Văn C thời hạn 12 (Mười hai) tháng. Ngày 12/10/2016, bị Toà án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với Lò Văn C thời hạn 24 (Hai mươi tư) tháng.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 23/02/2023. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 8 giờ 20 phút, ngày 23/02/2023, tại khu vực tiểu khu A, thị trấn TC, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La tổ công tác Công an thị trấn TC, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La phát hiện và bắt quả tang: Lò Văn C có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ vật chứng gồm:
01 gói giấy màu trắng, bên trong có chứa chất bột cục màu trắng nghi là Heroine (Lò Văn C khai là Heroine), có khối lượng 0,08 gam, trích rút toàn bộ 0,08 gam ký hiệu C1 làm mẫu vật gửi giám định.
Kết luận giám định số: 465/KL-KTHS, ngày 27/2/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La: “ Mẫu gửi giám định ký hiệu C1 là ma tuý, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphene, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,08 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,08 gam loại Heroine (Heroin)”. Mẫu vật gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
Tại cơ quan điều tra bị cáo Lò Văn C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như sau:
Khoảng 7 giờ 40 phút, ngày 23/02/2023, Lò Văn C đi bộ một mình từ nhà lên khu vực tiểu khu S, thị trấn TC, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, mục đích tìm mua ma tuý về sử dụng. Đến nơi, Lò Văn C gặp một người đàn ông (Lò Văn C không biết họ tên và địa chỉ cụ thể ở đâu) và hỏi mua được một gói ma tuý, được gói bằng giấy màu trắng, bên trong có một cục bột màu trắng là Heroine với giá 50.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý, Lò Văn C cất vào túi áo đang mặc, rồi đi bộ về nhà. Khi đi đến khu vực tiểu khu A, thị trấn TC, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La gặp Tổ công tác Công an thị trấn TC, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La yêu cầu kiểm tra ma túy. Quá trình kiểm tra phát hiện và bắt quả tang về hành vi: Tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ vật chứng như đã nêu trên.
Bản Cáo trạng số: 77/CT-VKS, ngày 17/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La truy tố bị cáo Lò Văn C về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La trong phần tranh tụng vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lò Văn C về điểm, điều, khoản và tội danh trên.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Lò Văn C phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Lò Văn C mức án từ 18 (mười tám) tháng đến 24 (hai mươi bốn) tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Lò Văn C.
Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 gói giấy màu trắng + một vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu.
Bị cáo phải chịu toàn bộ án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định.
Ý kiến của bị cáo Lò Văn C: Nhất trí như bản luận tội của Viện kiểm sát, xin giảm nhẹ hình phạt, miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
. Tại phiên toà Lò Văn C thừa nhận: Ngày 23/02/2023, Lò Văn C bị phát hiện và bắt quả tang về hành vi cất giữ trái phép trong người 0,08 chất ma tuý, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphene tại khu vực tiểu khu A, thị trấn TC, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La. Mục đích cất giữ để sử dụng cho bản thân.
Lời khai nhận tội của bị cáo Lò Văn C tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định chất ma tuý và các tài liệu khác có trong hồ sơ.
Tại Bản án số 85/2020/HSST, ngày 09/9/2020, của Toà án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La Lò Văn C bị xử phạt 24 (Hai mươi tư) tháng tù, về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy, chưa được xoá án tích. Đến ngày 23/02/2023 Lò Văn C lại tiếp tục có hành vi tàng trữ 0,08 gam ma tuý, loại Heroine (Herein), có tên khoa học là Diacetylmorphene. Trên cơ sở đó có đủ căn cứ kết luận bị cáo Lò Văn C phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý, quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của bị cáo Lò Văn C mục đích để sử dụng cho bản thân, là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý.
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng. Do vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm về toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Cần lên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, đảm bảo tính chất nghiêm minh của pháp luật.
Tuy nhiên khi áp dụng hình phạt cần cân nhắc về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo Lò Văn C thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo có 03 tiền án đã được đương nhiên xoá án tích, 01 tiền sự chưa hết thời hiệu được coi là chưa bị xử phạt hành chính, là nhân thân xấu.
. Bị cáo Lò Văn C đang bị tạm giam, tiếp tục tạm giam bị cáo trong hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án. Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập, không có tài sản, không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
. Về vật chứng vụ án: Đối với 01 mảnh giấy màu trắng + một vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu xét không còn giá trị sử dụng cần tuyên tịch thu tiêu hủy. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
. Về nguồn gốc số ma túy, Lò Văn C khai mua của một đàn ông dân tộc Thái, tại khu vực tiểu khu S, thị trấn TC, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La với giá 50.000 đồng vào ngày 23/02/2023. Do Lò Văn C không biết họ tên, địa chỉ cụ thể của người đàn ông bán ma tuý cho Lò Văn Khuyên ở đâu. Nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La không có căn cứ để điều tra xử lý là có căn cứ.
. Về án phí: Bị cáo Lò Văn C phải chịu toàn bộ án phí Hình sự sơ thẩm. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14; ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 249 , điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Lò Văn C phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
Xử phạt bị cáo Lò Văn C 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/02/2023.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
2. Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tiêu hủy: Một phong bì niêm phong có viền màu trắng đỏ, mặt trước ghi: Vật chúng nhập kho vụ Lò Văn C - TTTPCMT, bắt ngày 23/02/2023. Mặt sau phong bì, dán giấy niêm phong của Công an tỉnh Sơn La số: 053485, đè lên các mép dán của phong bì và trên giấy niêm phong có đầy đủ chữ ký, họ tên của các thành phần tham gia niêm phong, người bị bắt và 02 hình dấu đỏ của cơ quan CSĐT Công an huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La. Bên trong có: 01 mảnh giấy màu trắng + 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu.
(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 12 tháng 5 năm 2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La).
3. Về Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14; ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Bị cáo Lò Văn C phải nộp toàn bộ án phí Hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo Lò Văn C được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 01 tháng 6 năm 2023)./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND ( 02 ); - Sở tư pháp tỉnh; - Cơ quan CSĐT CA huyện; - THA hình sự; - Chi cục THADS; - Trại giam; - Bị cáo; - Lưu Hồ sơ; - Lưu án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lường Thị Hương |