vanban.org

Bản án 115/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Mộc Châu, tỉnh Sơn La Tuyên án 05/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H- Nguyễn Thế A - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 58 Bộ luật Hình sự Tuyên bố; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỘC CHÂU
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 115/2023/HS-ST
Ngày 05-5-2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Long Bình.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lò Thị Minh và bà Cầm Thị Đoa.

- Thư ký phiên tòa: Bà han Thị L iang Thư Tòa án nh n d n huy n Mộc Ch u tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Hi p Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 5 năm 2023, tại Tòa án nh n d n huy n Mộc Ch u tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công hai vụ án hình sự sơ thẩm thụ l số 95/2023/TLST-HS ngày 16 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 90/2023/QĐXXST-HS ngày 24/3/2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2023/HSST-QĐ ngày 06/4/2023 ; Thông báo mở lại phiên tòa số 03/2023/TB-TA ngày 24/4/2023 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn H, sinh ngày: 11/01/1987 tại huy n M tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản T xã Đ huy n M tỉnh Sơn La; nghề nghi p: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 5/12; d n tộc: Kinh; giới t nh: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Vi t Nam; đảng phái đoàn thể: Không; Bị cáo hông có bố có mẹ là bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1962; bị cáo có vợ là Hà Thị N (đã ly hôn) và có 02 con con lớn sinh năm 2013 con nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ tạm giam từ ngày 17/01/2023 đến nay. Có mặt.

2. Nguyễn Thế A, sinh ngày: 26/11/1993 tại huy n Mộc Ch u tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản T xã Đ huy n M tỉnh Sơn La; nghề nghi p: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; d n tộc: Kinh; giới t nh: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Vi t Nam; đảng phái đoàn thể: Không; con ông Nguyễn Văn T (đã chết) và bà Thái Thị N, sinh năm 1972; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ tạm giam từ ngày 17/01/2023 đến nay. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Nguyễn Văn H - Sinh năm 2004. Nơi cư trú: Bản T xã Đ huy n M tỉnh Sơn La có mặt.

+ Anh Nguyễn Huy Đ - Sinh năm 1990. Nơi cư trú: Tiểu hu A thị trấn M huy n M tỉnh Sơn La có mặt.

+ Anh Trần Hồng Q - Sinh năm 1990. Nơi cư trú: Tiểu hu B, thị trấn M, huy n M tỉnh Sơn La có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 23 giờ ngày 16/01/2023 tổ công tác Công an xã Đông Sang làm nhi m vụ tại Bản T xã Đ tiến hành iểm tra xe máy BKS: 26F7-4477 do Nguyễn Văn H điều hiển ph a sau chở Nguyễn Thế A. Qua iểm tra phát hi n Nguyễn Thế A đang cầm trong lòng bàn tay trái 01 gói nilon màu đen bên trong đựng 20 viên nén màu hồng trền bề mặt mỗi viên đều có hi u WY nghi là Methamphetamine. Nguyễn Văn H và Nguyễn Thế A hai nhận đó là Methamphetamine do H và Thế A vừa cùng nhau đi mua mang về để sử dụng. Căn cứ hành vi vi phạm của Nguyễn Văn H, Nguyễn Thế A tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang thu giữ niêm phong vật chứng tạm giữ của Nguyễn Văn H 01 chiếc xe máy BKS: 26F7-4477 02 chiếc đi n thoại di động và bàn giao Nguyễn Văn H, Nguyễn Thế A cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n Mộc Ch u để điều tra làm rõ.

Ngày 17/01/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n Mộc Ch u đã tiến hành xác định hối lượng 20 viên nén màu hồng thu giữ của Nguyễn Văn H và Nguyễn Thế A được 1 81 gam lấy 05 viên có hối lượng 0 46 làm mẫu trưng cầu giám định mẫu có hi u H.

Tại Kết luận giám định số 271 ngày 18/01/2023 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La ết luận: “Mẫu gửi giám định hi u H là ma túy; loại Methamphetamine; hối lượng của mẫu gửi giám định là 0 46 gam. Tổng hối lượng ma túy thu giữ là 1 81 gam; loại Methamphetamine.”

Quá trình điều tra Nguyễn Văn H và Nguyễn Thế A hai nhận: Bản th n đều nghi n chất ma túy và có mối quan h họ hàng. Tối ngày 16/01/2023 H mượn chiếc xe máy BKS: 26F7-4477 của em trai là Nguyễn Văn H, sinh năm: 2004, trú quán: Bản T xã Đ huy n M đi đến nhà Trần Hồng Q, sinh năm: 1990, trú quán: Tiểu hu A thị trấn M huy n M ăn cơm cùng Q và một số người bạn của Q. Khoảng 21 giờ cùng ngày mọi người ăn cơm xong rủ nhau đi hát tại quán karaoke 888 thuộc tiểu hu 10 thị trấn Mộc Ch u. Trước hi đi hát, Q bảo H đi mua ma túy hồng phiến mang đến quán hát để Q và H cùng sử dụng H đồng . Do đi n thoại của H hết tiền nên Qu n mượn chiếc đi n thoại di động nhãn hi u Qmobile của Nguyễn Huy Đ, sinh năm: 1990 trú quán: Tiểu hu B, thị trấn M huy n M đưa cho H sử dụng. Sau đó, H cùng mọi người đi đến quán arao e 888 thuộc tiểu hu A thị trấn M. Khi mọi người đã vào phòng hát, H đứng chờ ở ngoài quán hát thì Q đi ra đưa cho H số tiền 800.000 đồng để đi mua ma túy. Q hẹn H sau khi mua được ma túy sẽ mang về quán hát cùng nhau sử dụng. H nhận tiền rồi điều hiển xe máy BKS: 26F7-4477 đi đến nhà của Nguyễn Thế A tại bản T, xã Đ. H rủ Thế A đi mua hồng phiến nếu mua được ma túy sẽ cho Thế Anh 01 viên hồng phiến để sử dụng Thế Anh đồng . H điều hiển xe máy chở Thế A đi đến đầu bản C, xã Đ thì dừng xe rồi một mình đi bộ vào bản gặp và hỏi mua của một người đàn ông d n tộc Mông hông quen biết 01 gói nilon màu đen bên trong đựng 20 viên hồng phiến với giá 800.000 đồng. Sau khi mua được ma túy H đi ra nơi Thế A đang đứng chờ đưa gói ma túy cho Thế Anh cất giấu rồi điều hiển xe máy đi về đến Bản T xã Đ thì gặp tổ công tác Công an xã Đông Sang iểm tra phát hi n bắt quả tang.

Quá trình điều tra Trần Hồng Q hai nhận: Ngày 16/01/2023 sau hi ăn cơm tại nhà Qu n Nguyễn Văn H hỏi mượn đi n thoại của Qu n nhưng do đi n thoại của Qu n hết tiền nên Qu n đã mượn chiếc đi n thoại của Nguyễn Huy Đ đưa cho H mượn. Qu n hông đưa số tiền 800.000 đồng cho H để H đi mua ma túy. Ngày 06/3/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n Mộc Ch u tiến hành cho Trần Hồng Q và Nguyễn Văn H đối chất ết quả Trần Hồng Q và Nguyễn Văn H giữ nguyên lời hai đã trình bày tại Cơ quan điều tra.

Nguyễn Huy Đ hai nhận: Là bạn của Trần Hồng Q tối ngày 16/2/2023 Đông đến nhà Qu n ăn cơm uống rượu cùng Q và một số người sau đó Qu n rủ mọi người đi hat tại quán 888 do đi n thoại của Q hết tiền nên Đ đưa cho Q mượn chiếc đi n thoại Qmobile. Đ hông biết vi c H sử dụng chiếc đi n thoại vào vi c đi mua ma túy.

Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Thế A trình bày ý kiến, giữ nguyên lời khai của mình, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung nào làm thay đổi nội dung vụ án. Các bị cáo nhận tội như quyết định truy tố của Vi n kiểm sát.

Tại phiên tòa những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Trần Hồng Q và Nguyễn Huy Đ và Nguyễn Văn H giữ nguyên ý kiến như tại cơ quan Cảnh sát điều tra.

Cáo trạng số 50/CT-VKS ngày 15/02/2023 của Vi n iểm sát nh n d n huy n Mộc Ch u truy tố các bị can Nguyễn Văn H, Nguyễn Thế A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tu ” theo điểm c hoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại di n Vi n iểm sát nh n d n huy n Mộc Ch u giữ nguyên cáo trạng truy tố đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Thế A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tu ” và áp dụng các căn cứ pháp luật như sau:

1. Áp dụng điểm c hoản 1 Điều 249; điểm s hoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 36 tháng đến 42 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

2. Áp dụng điểm c hoản 1 Điều 249; điểm s hoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế A từ 30 tháng đến 36 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

3. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c hoản 1 hoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; hoản 1 điểm a, c hoản 2 điểm b hoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Ghi nhận vi c cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n Mộc Ch u đã giao trả 01 chiếc xe máy biển kiểm soát 26F7-4477 cho anh Nguyễn Văn H.

Ghi nhận vi c cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n Mộc Ch u đã giao trả 01 chiếc đi n thoại nhãn hi u Qmobile cho anh Nguyễn Huy Đ.

Trả cho bị cáo Nguyễn Văn H 01 chiếc đi n thoại nhãn hi u SAM SUN A30 thu giữ của Nguyễn Văn H.

Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ: Vật chứng vụ Nguyễn Văn H và Nguyễn Thế A bắt ngày 16/1/2023 (mảnh nilon màu đen một túi nilon màu trắng đựng 15 viên nén màu hồng và vỏ niêm phong ban đầu); 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong bên trong đựng test thử ma túy của Nguyễn Huy Đ, ngày 07/02/2023, kq: Âm tính; 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong bên trong đựng test thử ma túy của Trần Hồng Q, kq: Âm tính; 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong bên trong đựng test thử ma túy của Nguyễn Văn H, ngày 17/01/2023, kq: Âm tính; 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong bên trong đựng test thử ma túy của Nguyễn Thế A ngày 17/01/2023 q: Dương t nh; 01 chiếc phong bì đã dùng để niêm phong chiếc đi n thoại của Nguyễn Văn H.

4. Các bị cáo phải chịu án ph hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Sau hi đại di n Vi n iểm sát phát biểu quan điểm xử l các vấn đề của vụ án. Các bị cáo nhất tr với cáo trạng và đề nghị của đại di n Vi n iểm sát.

Lời nói sau cùng: Các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huy n Mộc Ch u Điều tra viên Vi n iểm sát nh n d n huy n Mộc Ch u Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hi n đúng về thẩm quyền trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan hông có iến hiếu nại về hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng người tiến hành tố tụng đã thực hi n đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Thế A hai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã hai tại cơ quan Điều tra số ma túy bị tổ công tác Công an huy n Mộc Ch u thu giữ của các bị cáo vào ngày 16/01/2023 có nguồn gốc mua được của một người đàn ông dân tộc Mông với giá 800.000 đồng mục đ ch cùng nhau sử dụng. Lời hai của các bị cáo hông có nội dung gì thay đổi so với lời hai tại cơ quan Cảnh sát điều tra các bị cáo hẳng định vi c hai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguy n và đúng với hành vi đã thực hi n.

Xét lời hai của các bị cáo là hoàn toàn tự nguy n và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang do tổ công tác Công an huy n Mộc Ch u lập vào hồi 23 giờ 30 phút ngày 16/01/2023; biên bản niêm phong đồ vật tài li u bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong xác định số lượng hối lượng lấy mẫu giám định niêm phong lại vật chứng đồ vật tài li u bị tạm giữ; bản ết luận giám định số 271 ngày 18/01/2023 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La ết luận: “Mẫu gửi giám định hi u H là ma túy; loại Methamphetamine; hối lượng của mẫu gửi giám định là 0 46 gam. Tổng hối lượng ma túy thu giữ là 1 81 gam; loại Methamphetamine” Methamphetamine nằm trong danh mục II mục IIC số thứ tự 247 tại Nghị định 57/2022/NĐ-C ngày 25/8/2022 của Ch nh phủ. Lời hai của các bị cáo phù hợp với lời hai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; người làm chứng trong quá trình điều tra và các tài li u chứng cứ của cơ quan điều tra đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Từ những chứng cứ nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Thế A là người có đủ năng lực trách nhi m hình sự nhận thức được tác hại của vi c tàng trữ sử dụng ma túy. Nhưng do nghi n chất ma túy nên ngày 16/01/2023 bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Thế A đã có hành vi tàng trữ cất giấu trái phép 1,81 gam Methamphetamine nhằm mục đ ch cùng nhau sử dụng. Hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c hoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Thế A hông vi phạm các tình tiết định hung tăng nặng hác nên chỉ bị xét xử ở điểm c hoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp x m phạm đến ch nh sách độc quyền của Nhà nước về quản l các chất ma túy g y ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

Phân hoá vai trò phạm tội: Bị cáo Nguyễn Văn H là người sử dụng phương ti n hởi xướng rủ rê Nguyễn Thế A đi mua ma túy trực tiếp giao dịch mua ma túy; Nguyễn Thế A là người cùng bàn bạc đi mua ma túy và trực tiếp cất giấu ma túy. Các bị cáo cùng cố thực hi n tội phạm phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm theo quy định tại Điều 17 Bộ luật hình sự do đó hi quyết định hình phạt cần căn cứ Điều 58 Bộ luật hình sự xem xét t nh chất của đồng phạm t nh chất mức độ tham gia phạm tội của từng bị cáo.

Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhi m hình sự.

Các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Thế A được hưởng một tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự đó là trong quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay các bị cáo đều có thái độ thành hẩn hai báo ăn năn hối cải đ y là tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự quy định tại điểm s hoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cần xem xét áp dụng đối với các bị cáo.

Về nhân thân của các bị cáo:

Các bị cáo đều là đối tượng nghi n chất ma túy phạm tội do lỗi cố . Từ những đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly các bị cáo ra hỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo giáo dục đối với các bị cáo đồng thời mới có tác dụng răn đe giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

[3] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại hoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy quá trình điều tra và thẩm vấn công hai tại phiên tòa hôm nay thấy rằng các bị cáo là đối tượng nghi n ma túy sống chung với gia đình hông có tài sản riêng có giá trị nên hông áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

[4] Về vật chứng, xử lý vật chứng:

Đối với 01 chiếc xe máy BKS: 26F7-4477 thu giữ của Nguyễn Văn H. Xét thấy đ y là tài sản riêng của anh Nguyễn Văn H (em trai bị cáo Nguyễn Văn H), vi c bị cáo H sử dụng xe để đi mua ma túy Anh Hòa hoàn toàn không biết và hông liên quan. Do đó cần ghi nhận vi c cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n Mộc Ch u đã trả lại cho anh Nguyễn Văn H.

Đối với chiếc đi n thoại nhãn hi u Qmobile đã thu giữ của Nguyễn Văn H quá trình điều tra và tại phiên tòa đã làm rõ đ y là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của Nguyễn Huy Đ và hông liên quan đến tội phạm. Do đó cần ghi nhận vi c Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n Mộc Ch u đã trao trả chiếc đi n thoại trên cho Nguyễn Huy Đ

Đối với 01 chiếc đi n thoại nhãn hi u SAM SUN A30 thu giữ của Nguyễn Văn H bị cáo hông sử dụng vào vi c phạm tội do vậy cần trả cho bị cáo Nguyễn Văn H quản l sử dụng.

Đối với 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ: Vật chứng vụ Nguyễn Văn H và Nguyễn Thế A bắt ngày 16/1/2023 (mảnh nilon màu đen một túi nilon màu trắng đựng 15 viên nén màu hồng và vỏ niêm phong ban đầu); 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong bên trong đựng test thử ma túy của Nguyễn Huy Đ, ngày 07/02/2023, kq: Âm tính; 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong bên trong đựng test thử ma túy của Trần Hồng Q, kq: Âm tính; 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong bên trong đựng test thử ma túy của Nguyễn Văn H, ngày 17/01/2023, kq: Âm tính; 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong bên trong đựng test thử ma túy của Nguyễn Thế A ngày 17/01/2023 q: Dương t nh; 01 chiếc phong bì đã dùng để niêm phong chiếc đi n thoại của Nguyễn Văn H là vật Nhà nước cấm Tàng trữ lưu hành và hông còn giá trị sử dụng. Áp dụng điểm c hoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; hoản 1 điểm a, c hoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy.

[5] Về các vấn đề khác:

Đối với Trần Hồng Q và Nguyễn Huy Đ quá trình điều tra và tại phiên tòa hông xác định được vi c Q và Đ liên quan đến hành vi phạm tội của Nguyễn Văn H nên hông đủ căn cứ để truy cứu trách nhi m đối với Trần Hồng Q và Nguyễn Huy Đ.

Đối với người đàn ông d n tộc Mông đã bán ma túy cho Nguyễn Văn H như H đã hai nhận quá trình điều tra hông xác định được lai lịch địa chỉ do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n Mộc Ch u hông có căn cứ để điều tra, làm rõ.

[6] Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án ph hình sự sơ thẩm mỗi bị cáo là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) phù hợp với hoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 điểm a hoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm thu nộp quản l và sử dụng án ph và l ph Tòa án.

Thời hạn tạm giam của các bị cáo dưới 45 ngày nên Hội đồng xét xử ra quyết định tạm giam đối với các bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT Đ NH:

1. Căn cứ điểm c hoản 1 Điều 249; điểm s hoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 36 (Ba mươi sáu) tháng tù.

Thời hạn tù của bị cáo t nh từ ngày 17/01/2023.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

2. Căn cứ điểm c hoản 1 Điều 249; điểm s hoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thế A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế A 30 (Ba mươi) tháng tù.

Thời hạn tù của bị cáo t nh từ ngày 17/01/2023.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

3. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm c hoản 1 hoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; hoản 1 điểm a, c hoản 2 điểm b hoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Ghi nhận vi c cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n Mộc Ch u đã giao trả 01 (Một) chiếc xe máy biển kiểm soát 26F7-4477 cho anh Nguyễn Văn H.

Ghi nhận vi c cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n Mộc Ch u đã giao trả 01 (Một) chiếc đi n thoại nhãn hi u Qmobile cho anh Nguyễn Huy Đ.

Trả cho bị cáo Nguyễn Văn H 01 (Một) chiếc đi n thoại nhãn hi u SAM SUN A30 thu giữ của Nguyễn Văn H.

Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ: Vật chứng vụ: Nguyễn Văn H và Nguyễn Thế A bắt ngày 16/1/2023 (mảnh nilon màu đen một túi nilon màu trắng đựng 15 viên nén màu hồng và vỏ niêm phong ban đầu); 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong bên trong đựng test thử ma túy của Nguyễn Huy Đ, ngày 07/02/2023, kq: Âm t nh; 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong bên trong đựng test thử ma túy của Trần Hồng Q, kq: Âm tính; 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong bên trong đựng test thử ma túy của Nguyễn Văn H, ngày 17/01/2023, kq: Âm tính; 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong bên trong đựng test thử ma túy của Nguyễn Thế A, ngày 17/01/2023 q: Dương t nh; 01 chiếc phong bì đã dùng để niêm phong chiếc đi n thoại của Nguyễn Văn H.

4. Về án phí: Căn cứ hoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; hoản 1 Điều 21 điểm a hoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội hóa 14 quy định về mức thu miễn giảm thu nộp quản l và sử dụng án ph và l ph Tòa án.

Các bị cáo phải chịu án ph hình sự sơ thẩm mỗi bị cáo là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng chẵn).

Các bị cáo người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền háng cáo trong hạn 15 ngày ể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ