vanban.org

Bản án 115/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam Tuyên án 27/11/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đông K phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đông K 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án. Về vật chứng: Tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án 01 (một) đĩa DVD lưu trữ file video có thời lượng 00 phút 54 giây do Camera an ninh ghi lại diễn biến vụ tai nạn. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, b…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đông K phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ ĐIỆN BÀN
TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 115/2023/HS-ST
Ngày 27-11-2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thúy Vân

Các hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thanh Thủy

2. Ông Trần Phi Long

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Thuận, thư ký Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn tham gia phiên tòa: Ông Trương Vui – Kiểm sát viên

Ngày 27 tháng 11 năm 2023, tại Hội trường Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 105/2023/HSST ngày 17/10/2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 98/2023/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 08/QĐHTP-ST ngày 15/11/2023, đối với bị cáo:

- Họ và tên: Nguyễn Đông K – Sinh ngày 23 tháng 10 năm 1999, tại Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Nơi cư trú: Khối phố B, phường Đ, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Th2 và bà Tống Thị B. Bị cáo chưa có vợ con. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

+ Bị hại: Bà Nguyễn Thị T - Sinh năm 1937 (đã chết).

+ Người đại diện hợp pháp cho bị hại:

1. Ông Lê Xuân Th – Sinh năm 1958. Địa chỉ: Thôn N, xã Điện Phước, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. (vắng mặt)

2. Bà Lê Thị C – Sinh năm 1962. Địa chỉ: Thôn L, xã Điện Phước, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. (vắng mặt)

3. Ông Lê H1 – Sinh năm 1970. Địa chỉ: Thôn N, xã Điện Phước, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. (có mặt)

4. Bà Lê Thị Bích H3 – Sinh năm 1972. Địa chỉ: Tổ X, phường M, quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng. (vắng mặt)

5. Bà Lê Thị Diệu H2– Sinh năm 1976. Địa chỉ: Thôn C, xã Điện Thọ, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. (vắng mặt)

6. Bà Lê Thị Thanh P – Sinh năm 1980. Địa chỉ: Thôn C, xã Điện Thọ, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. (vắng mặt)

Ông Th, bà C, ông H1, bà H3, bà Hiền, bà P là các con của bà Nguyễn Thị T cùng ủy quyền cho ông Lê Xuân Th, sinh năm 1958; địa chỉ: Thôn N, xã Điện Phước, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam tham gia tố tụng.

+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Lê Hàn Nhật T2 – Sinh năm 2002. Địa chỉ: Thôn N, xã Điện Phước, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. (vắng mặt)

2. Ông Tống Thanh L1 – Sinh năm: 1972; Địa chỉ: phường T, quận 12, thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 30 phút, ngày 17/10/2022, Nguyễn Đông K điều khiển xe môtô BKS: 59G1 – 303.86 lưu thông trên đường bê tông số 07 hướng từ thôn La Hoà, xã Điện Phước đi ra đường đường ĐT609. Khi K lưu thông đến ngã tư giao nhau với đường bê tông số 01 (là đường ưu tiên), tại thôn Nông Sơn 1, xã Điện Phước, thị xã Điện Bàn do không quan sát nhường đường nên xe môtô do K điều khiển va chạm với với xe môtô BKS: 92D1 – 768.61 do anh Lê Hàn Nhật T2 điều khiển xe chở theo sau bà Nguyễn Thị T lưu thông trên đường bê tông số 01 theo hướng từ Vĩnh Điện đi huyện Đại Lộc. Sau va chạm 02 xe ngã ra đường. Hậu quả bà T bị thương được đưa đi cấp cứu, đến ngày 24/10/2022 bà T chết.

Hiện trường xảy ra vụ TNGT là ngã tư giao nhau giữa đường bê tông số 01 hướng Vĩnh Điện – Đại Lộc và đường bê tông số 07 hướng La Hoà – ĐT609 tại thôn Nông Sơn 1, xã Điện Phước. Trong đó đường số 07 có mặt đường thấp hơn mặt đường số 01 tại vị trí giao nhau. Trên đường số 01 hướng Vĩnh Điện – Đại Lộc trước khi vào vị trí giao nhau với đường số 07 có gắn biển báo giao nhau với đường không ưu tiên. Trên đường số 07 trước khi vào vị trí giao nhau không có gắn biển báo giao nhau với đường ưu tiên. Đường số 01 giao nhau với đường số 07 hướng Vĩnh Điện rộng 6m60 ngược lại hướng Đại Lộc rộng 5m79. Đường số 07 giao nhau với đường số 01 về hướng đường ĐT609 rộng 03m và 01 mương nước rộng 1m75 (bên trái đường), hướng ngược lại đường rộng 4m90. Lấy trụ điện ĐH16 trên đường số 01 hướng Đại Lộc làm điểm mốc, chọn mép đường chuẩn là mép phải đường số 01 hướng Vĩnh Điện – Đại Lộc, chọn mép phải đường số 07 theo hướng La Hoà – ĐT609 làm mép phụ. Xác định vị trí các P tiện sau tai nạn và các dấu vết, ghi nhận như sau:

+ Vị trí số 01 là xe môtô BKS: 92D1 – 768.51 ngã sang phải, đầu xe hướng Đại Lộc, đuôi xe hướng Vĩnh Điện. Trục sau cách điểm mốc 7m70, cách mép đường chuẩn 2m65, cách mép phụ 00m20. Trục trước cách mép đường chuẩn 3m50, cách mép đường phụ 00m55.

+ Vị trí số 02 là xe môtô BKS: 59G1 – 303.86 ngã nghiêng sang phải, đầu xe hướng ĐT609, đuôi xe hướng La Hoà. Trục sau cách trục trước xe mô tô BKS: 92D1 – 768.51 là 01m, cách mép đường chuẩn 4m10, cách mép đường phụ 1m30. Trục trước cách mép đường chuẩn 5m30, cách mép đường phụ 00m50.

+ Vị trí số 03 là vết cày xước dài liên tục 10cm trên mặt đường. Tâm vết cày cách điểm mốc 6m37, cách mép đường chuẩn 2m08.

+ Vị trí số 04 là vết cày không liên tục dạng cong sang phải theo hướng Vĩnh Điện – Đại Lộc dài 1m25, cách điểm mốc 7m27, cách mép đường chuẩn 2m48. Ngay trên mép đường số 07 là điểm đầu vết cày, cách điểm mốc 8m95, cách mép đường chuẩn 2m66 là điểm cuối vết cày.

+ Ví trí số 05 là vết cày không liên tục gồm 02 đường song song cách nhau 6cm, trong đó một vết có độ dài 0m90, một vết có độ dài 1m. Điểm đầu vết cày cách điểm mốc 8m40, cách mép đường chuẩn 3m70. Điểm cuối vết cày cách điểm mốc 9m96, cách mép đường chuẩn 4m59.

Tại Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 232/KL-KTHS(PY) ngày 08/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Nam đối với bà Nguyễn Thị T ghi nhận các dấu vết chính sau:

- Vùng thái dương – đỉnh phải có vết mổ đã khâu chỉ dài 29cm.

- Chụp CT Scanner sọ não tuyến trước: máu tụ dưới màng cứng bán cầu phải, dập não thái dương phải.

- XQ ngực: gãy xương đòn phải.

Nguyên nhân chết: bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1937 chết do: suy hô hấp – tuần hoàn cấp không hồi phục, hậu quả của đa chấn thương (chấn thương sọ não, gãy xương đòn phải).

Tại Bản kết luận giám định số 203/KL-KTHS ngày 17/3/2023 của Phân viện KHHS tại thành phố Đà Nẵng: dấu vết va chạm và chiều hướng của các dấu vết va chạm giữa xe môtô BKS: 92D1 – 768.61 và xe môtô BKS: 59G1 – 303.86: dấu vết hằn, trượt, xước kim loại tại bên phải bánh xe trước (chân nan hoa thứ 02 của vành bánh xe tính từ chân van theo chiều ngược chiều quay tiến của bánh xe và má lốp) của xe môtô BKS: 92D1 – 768.61, có chiều hướng từ tâm vành ra ngoài má lốp bánh xe phù hợp với dấu vết hằn, trượt, xước kim loại tại đầu cần trợ lực chân chống đứng của xe môtô BKS: 59G1 – 303.86, có chiều hướng từ trước ra sau từ phải qua trái. Các dấu vết trên hình thành khi hai xe chuyển động giao cắt và va chạm với nhau.

Vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Điện Bàn đã tạm giữ và xử lý những vật chứng sau:

- 01 (một) xe môtô hiệu Yamaha Sirius BKS: 59G1 – 303.86 của anh Tống Thanh L là cậu ruột của Nguyễn Đông K. Trước thời điểm xảy ra tai nạn anh Lộc gởi xe tại nhà K đi làm ăn. Việc K lấy xe đi lại anh Lộc không biết; 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Winer BKS: 92D1 – 786.61 của anh Lê Hàn Nhật Tân. Vật chứng trên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp

- 01 (một) đĩa DVD lưu trữ file video có thời lượng 00 phút 54 giây do Camera an ninh ghi lại diễn biến vụ tai nạn, lưu cùng hồ sơ vụ án.

Về dân sự: Bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại đã thoả thuận xong về dân sự.

Bản cáo trạng số 104/CT-VKS ngày 15/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn, truy tố bị cáo Nguyễn Đông K về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đông K phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;

+ Về hình phạt, đề nghị áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Đông K từ 09 đến 12 tháng tù.

+ Về dân sự: Đã thỏa thuận xong.

+ Về vật chứng: Tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án 01 (một) đĩa DVD lưu trữ file video ghi lại diễn biến vụ tai nạn.

Đối với bị cáo: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện như quyết định truy tố của Viện kiểm sát, đồng thời cũng nhận thức được hành vi phạm tội của mình là sai trái, ăn năn, hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện bị hại: Xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không có ý kiến, yêu cầu bồi thường dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Điện Bàn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Tại phiên tòa cũng như tại Cơ quan điều tra bị cáo Nguyễn Đông K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, phù hợp với lời khai người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: Vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 17/10/2023, Nguyễn Đông K không có Giấy phép lái xe theo quy định điều khiển xe môtô hiệu Yamaha Sirius BKS: 59G1 – 303.86 dung tích xi lanh 110cm3 lưu thông trên đường bê tông số 07 hướng thôn La Hoà đi ra đường ĐT609. Khi đến ngã tư giao nhau với đường số 01 thuộc thôn Nông Sơn 1, xã Điện Phước, thị xã Điện Bàn, do không chú ý quan sát, không nhường đường cho phương tiện lưu thông từ đường ưu tiên đã tông vào xe môtô BKS: 92D1 – 786.61 do anh Lê Hàn Nhật Tân điều khiển hướng Vĩnh Điện đi Đại Lộc chở theo sau bà Nguyễn Thị T. Hậu quả bà Nguyễn Thị T bị thương tích, đến ngày 24/10/2023 bà T chết. Hành vi điều khiển xe môtô tham gia giao thông không có Giấy phép lái xe, không chú ý quan sát, không nH3 đường cho P tiện đi trên đường ưu tiên của Nguyễn Đông K đã vi phạm khoản 9, khoản 23 Điều 8; khoản 15 Điều 3; khoản 3 Điều 24 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 và đủ yếu tố cấu thành tội „„Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ“ theo qui định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự. Vì vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo: Tính mạng của con người là bất khả xâm phạm, bị cáo K không có giấy phép lái xe theo quy định nhưng vẫn bất chấp điều khiển xe lưu thông trên đường, khi đến điểm giao nhau, bị cáo không nH3 đường cho xe đi trên đường ưu tiên nên xảy ra va chạm, dẫn đến cái chết cho bà Nguyễn Thị T. Vì vậy, cần phải xử bị cáo mức án nghiêm minh, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ, quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả, bị hại có Đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn. Bị cáo có nhân thân tốt, từ trước đến nay bị cáo không có hành vi vi phạm pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự, xử dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cho bị cáo.

Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Điện Bàn đã tạm giữ và xử lý trả lại: 01 (một) xe môtô hiệu Yamaha Sirius BKS: 59G1 – 303.86 của ông Tống Thanh Lộc là cậu ruột của Nguyễn Đông K là phù hợp.

Đối với 01 (một) đĩa DVD lưu trữ file video có thời lượng 00 phút 54 giây do Camera an ninh ghi lại diễn biến vụ tai nạn, tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án.

Về phần dân sự: Đã thỏa thuận xong, đại diện hợp pháp cho người bị hại, không yêu cầu gì nên không xem xét.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đông K phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

- Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đông K 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

Về vật chứng: Tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án 01 (một) đĩa DVD lưu trữ file video có thời lượng 00 phút 54 giây do Camera an ninh ghi lại diễn biến vụ tai nạn.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban tH3 vụ Quôc Hội buộc bị cáo Nguyễn Đông K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người tham gia tố tụng có mặt, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng người vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kế từ ngày nhận được bản án

Cỡ chữ