vanban.org

Bản án 115/2023/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Nai Tuyên án 22/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thanh L 20 (hai mươi) năm tù về tội “Mua bán trái phép cất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 24/10/2022.

Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong theo Kết luận giám định số 2245/KL-KTHS ngày 28/10/2022 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai; 01 túi đeo có chữ LV không còn giá trị sử dụng. Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Oppo số Imei 860265051314852 và số 860265051314… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án HSST Nguyễn Thị Thanh L - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thanh L 20 (hai mươi) năm tù về tội “Mua bán trái phép cất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 24/10/2022.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

___________
Bản án số: 115/2023/HS-ST
Ngày: 22 – 8 - 2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trầ n Phương Đông

Thẩm phán: Ông Vũ Thế Phương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thanh Hùng

Ông Nguyễn Thành Nam

Bà Trần Thị Thu Vân

- Thư ký phiên tòa:Bà Phạm Thị Quỳnh – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Tiến Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 8 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 140/2023/TLST-HS ngày 06 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 144/2023/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đối với:

Bị cáo Nguyễn Thị Thanh L - Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Sinh ngày 26/11/1984 tại thành phố Hồ Chí Minh; CCCD số 079184016605 cấp ngày 11/01/2022 tại Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; Nơi cư trú: 204/30 đường C, phường 5, quận T, thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam - Dân tộc: Kinh - Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: lớp 11/12; Tiền sự: không; Tiền án: Ngày 21/8/2014, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đ xử phạt 10 năm tù giam về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Họ và tên cha: Nguyễn Văn N, sinh năm 1957; Họ và tên mẹ: Vũ Thị Thanh , sinh năm 1966; Có chồng là Đỗ Anh T sinh năm 1978 (đã ly hôn) có 01 con chung sinh năm 2007 (sống chung như vợ chồng với Nguyễn Thành Nam sinh năm 1987, có 03 con chung nhỏ sinh năm 2010, lớn sinh năm 2012 và sống chung như vợ chồng với Nguyễn Ngọc Sang sinh năm 1987); Bị cáo bị bắt trong trường hợp quả tang vào ngày 24/10/2022, chuyển tạm giam ngày 02/11/2022 và hiện nay đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an Đồng Nai (có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Thanh Lan: Ông Nguyễn Xuân T – Luật sư thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thị Thanh L là người nghiện ma túy và không có việc làm ổn định, để có tiền tiêu xài và ma túy sử dụng nên ngày 24/10/2022, L sử dụng điện thoại di động liên lạc đặt mua của người tên “Cường” (không rõ nhân thân lai lịch) tại khu vực ngã ba V thuộc phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai 01 gói ma túy đá giá 20.000.000 đồng để bán cho người khác. Sau đó L gặp Cường tại nga ba V để mua bán ma túy. Sau khi mua được ma túy; L kiểm tra bên trong có 05 gói ma túy nhỏ đồng thời L đã liên lạc qua ứng dụng Zalo với người tên Hồng (không rõ nhân thân lai lịch) có tài khoản Zalo Nguyễn Ngọc T ở khu vực ngã ba T thuộc phường Q, thành phố B để bán 500.000 đồng ma túy cho Hồng, số ma túy còn lại L tiếp tục mang theo người để bán kiếm lời.

Vào lúc 14 giờ 25 phút ngày 24/10/2022, Công an thành phố B kiểm tra Nguyễn Thị Thanh L tại Công viên B đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai phát hiện bắt quả tang thu giữ: 01 túi đeo có chữ LV bên trong có 05 gói nilon chứa tinh thể màu trắng; 01 điện thoại di động hiệu Oppo số Imei 860265051314852 và số 860265051314845 gắn sim số 0908901790; 1.097.000 đồng của Nguyễn Thị Thanh L; 01 xe mô tô hiệu Honda Vario biển số 59D3 -091.22; 01 điện thoại hiệu Sam Sung Galaxy A50S; 2.100.000 đồng của Nguyễn Ngọc S (S là người được L nhờ chở đi).

Kết luận giám định số 2245/KL-KTHS ngày 28/10/2022 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai về số ma túy thu giữ khi bắt quả tang Nguyễn Thị Thanh L kết luận: “Mẫu chất màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, khối lượng: 217 gam loại Methamphetamine”.

Tại Bản cáo trạng số 140/CT-VKS-P2 ngày 29/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đề nghị truy tố ra trước Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai để xét xử đối với bị cáo Nguyễn Thị Thanh L, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm,

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thanh L 20 (hai mươi) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017;

- Vị luật sư bào chữa và bị cáo Nguyễn Thị Thanh L: Không có ý kiến về tội danh truy tố của Viện kiểm sát nhưng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải; gia đình có ông Nội là người có công với cách mạng; hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng:

- Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự;

- Quá trình tiến hành điều tra, cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai có Thông báo số 8492/CSMT ngày 28/11/2022, Thông báo về việc đăng ký bào chữa đối với Luật sư Nguyễn Xuân T và trong quá trính tiến hành hỏi cung bị cáo tại Cơ quan điều tra thể hiện có sự tham gia của Luật sư và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo và vị luật sư thể hiện ý kiến thống nhất với Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai truy tố, không có ý kiến gì khác nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo quy định.

Về nội dung vụ án:

Xét thấy, tại phiên tòa sơ thảm, bị cáo Nguyễn Thị Thanh L khai nhậ n hà nh vi phạm tội như Bản cáo trạ ng củ a Việ n kiể m sá t nhân dân tỉ nh Đồ ng Nai đã mô tả nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:

Vào ngày 24/10/2022, tại khu vực ngã ba V thuộc phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Thị Thanh L mua của người tên Cường (không rõ nhân thân lai lịch) 01 gói ma tuý đá giá 20.000.000 đồng mục đích để bán. Đến khoảng 08 giờ cùng ngày L lấy một ít ma túy mang đến khu vực ngã ba T thuộc phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai bán cho người tên Hồng có tài khoản Zalo Nguyễn Ngọc T (không rõ nhân thân lai lịch) giá 500.000 đồng. Khoảng 14 giờ 25 phút cùng ngày, khi L mang theo số ma túy còn lại đi đến khu vực Công viên B đường N, phường T, thành phố B thì bị kiểm tra phát hiện bắt quả tang thu giữ 05 gói ma túy có khối lượng 217 gam loại Methamphetamine để bán.

Về tội danh:

Hành vi trên đây của bị cáo Nguyễn Thị Thanh L đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b (Methamphetamine có khối lượng từ 100g trở lên) khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự như Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã viện dẫn.

Về tính chất, mức độ hành vi:

Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thị Thanh L là nguy hiểm cho xã hội ; xâm phạ m chế độ quản lý ma túy và gây mất trật tự trị an tại đía phương.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Nguyễn Thị Thanh L phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm theo điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS 2015 đượ c sử a đổ i bổ sung năm 2017.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải; gia đình có ông Nội là người có công cách mạng; hoàn cảnh gia đình khó khăn. Những tình tiết giảm nhẹ này được quy định tại các điềm s khoả n 1, khoản 2 Điề u 51 Bộ luậ t hì nh sự năm 2015 đượ c sử a đổ i bổ sung năm 2017.

Về xử lý vật chứng trong vụ án:

Căn cứ Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai quyết định:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong theo Kết luận giám định số 2245/KL-KTHS ngày 28/10/2022 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai; 01 túi đeo có chữ LV không còn giá trị sử dụng.

- Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Oppo số Imei 860265051314852 và số 860265051314845 gắn sim số 0908901790 là công cụ, phương tiện sử dụng vào mục đích phạm tội.

- Tạm giữ số tiền 1.097.000 đồng của Nguyễn Thị Thanh L để đảm bảo thi hành án.

- Trả lại cho Nguyễn Ngọc S: 01 xe mô tô hiệu Honda Vario biển số 59D3 - 091.22; 01 điện thoại hiệu Sam Sung Galaxy A50S; 2.100.000 đồng.

Đối với các nội dung khác:

- Đối với hành vi của Nguyễn Ngọc S là người mà Nguyễn Thị Thanh L nhở chở đi công việc, hồ sơ vụ án thể hiện khi L điện thoại cho S chỉ nói đi tới ngã ba V, TP.B có công việc và tại phiên tòa, bị cáo L khẳng định S không biết việc L mua bán trái phép chất ma túy nên Cơ quan điều tra Công an tỉnh Đồng Nai và Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai xác định không có “dấu hiệu đồng phạm” của Nguyễn Ngọc S (theo lời khai của bị cáo thì S chung sống như vợ chồng đối với bị cáo). Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử và thống nhất với hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy” của Nguyễn Ngọc S bị Công an TP.B lập hồ sơ đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định;

- Đối với hành vị của đối tượng tên Cường (người bán ma túy cho bị cáo) và tên Hồng (người mua ma túy của bị cáo), Cơ quan điều tra Công an tỉnh Đồng Nai tiếp tục xác minh làm rõ theo quy định;,

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị Thanh L phải chịu án phí hình sự sơ thẩ m theo quy định.

Đối với phần trình bày và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai , bị cáo và người bào chữa cho bị cáo , người tham gia tố tụng khác được Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định về vụ án.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thanh L 20 (hai mươi) năm tù về tội “Mua bán trái phép cất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 24/10/2022.

2. Căn cứ Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong theo Kết luận giám định số 2245/KL-KTHS ngày 28/10/2022 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai; 01 túi đeo có chữ LV không còn giá trị sử dụng.

- Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Oppo số Imei 860265051314852 và số 860265051314845 gắn sim số 0908901790 là công cụ, phương tiện sử dụng vào mục đích phạm tội.

- Tạm giữ số tiền 1.097.000 đồng của Nguyễn Thị Thanh L để đảm bảo thi hành án.

- Trả lại cho Nguyễn Ngọc S: 01 xe mô tô hiệu Honda Vario biển số 59D3 - 091.22; 01 điện thoại hiệu Sam Sung Galaxy A50S; 2.100.000 đồng.

(Hiện Cục thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai đang quản lý tại Biên bản giao nhận vật chứng vào ngày 04/7/2023 và tại Giấy nộp tiền mặt số 21103028 ngày 04/7/2023 tại BIDV- chi nhánh Biên Hòa)

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Thị Thanh L phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Quyền này là 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa.

Cỡ chữ