vanban.org

Bản án 115/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu Tuyên án 27/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lù Văn T; tên gọi khác Lù Văn Th phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/4/2023. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo. Về vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lù Văn T - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lù Văn T; tên gọi khác Lù Văn Th phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TAND HUYỆN T
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 115/2023/HS-ST
Ngày 27-9-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thị Tuyết Thanh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vương Huy Vượng; Ông Nguyễn Hữu Thức

- Thư ký phiên toà: Ông Lương Văn Đoàn - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Lai Châu tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Kiến Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 122/2023/TLST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 117/2023/QĐXXST-HS ngày 15/9/2023 đối với bị cáo:

Họ và tên Lù Văn T; tên gọi khác: Lù Văn Th; giới tính: Nam; sinh năm 2000; Nơi sinh: huyện T, tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: bản N, xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Lò Văn B, sinh năm 1980 và con bà Hoàng Thị T, sinh năm 1982; Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 24/4/2023, tạm giam từ ngày 30/4/2023 đến nay, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T., tỉnh Lai Châu. Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Lù Văn B, sinh năm 2002; địa chỉ: bản N, xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ, ngày 24/4/2023, Lù Văn T (tên gọi khác Lù Văn Th) hỏi mượn 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE RSX, màu sơn đen đỏ, biển kiểm soát 25B1-631.49 của em trai tên là Lù Văn B mục đích để đi mua Heroin mang về bán kiếm lời, nhưng T không nói cho B biết là mượn xe đi mua ma tuý, B đồng ý rồi T điều khiển xe mô tô từ nhà đến bản Nậm Cung, xã M, huyện T để tìm mua Heroin. Tại đây, T gặp và mua được của 01 người đàn ông không rõ nhân thân lai lịch tự giới thiệu tên là “Sòi” 02 gói Heroin bên ngoài mỗi gói đều được gói bằng mảnh nilon màu xanh với giá 300.000 đồng rồi mang về nhà, còn người đàn ông tên “Sòi” đi đâu không rõ. Trên đường về T dừng xe lấy 02 gói Heroin vừa mua được ra chia thành 05 gói (trong đó 04 gói T gói bằng mảnh giấy màu trắng và 01 gói T gói bằng mảnh nilon màu xanh) và đựng vào vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu “THĂNG LONG” màu vàng rồi cất trong túi quần bên trái đang mặc để mang về nhà. Khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, T điều khiển xe đến cầu thuộc bản N, xã M, huyện T thì gặp Vàng Văn Chiến, sinh ngày 06/8/2000, trú tại bản Phiêng Cẩm, xã Mường Cang, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu đang điều khiển xe mô tô chở theo Mè Văn Muôn sinh ngày 01/10/2001, trú tại bản Hoàng Liên, thị trấn T, huyện T. Do có quen biết nên khi thấy T, Chiến gọi T dừng xe để nói chuyện. Sau đó T, Chiến, Muôn cùng nhau đi xuống gầm cầu chơi, tại đây, Chiến hỏi T “Bạn có không?” tức hỏi T có Heroin bán không? T trả lời “Có”, do cầu đang có nhiều người qua lại nên T dẫn Chiến và Muôn đi vào khu vực nghĩa trang bản N, xã M để bán Heroin. Tại đây, Chiến hỏi mua Heroin của T với giá 100.000 đồng, T đồng ý và T lấy 01 gói Heroin bên ngoài được gói bằng mảnh giấy màu trắng từ trong vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long ra đưa cho Chiến, thấy Chiến mua Heroin nên Muôn cũng hỏi mua Heroin của T với giá 100.000 đồng, T đồng ý và lấy 01 gói Heroin bên ngoài được gói bằng mảnh giấy màu trắng từ trong vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long ra đưa cho Muôn (Chiến và Muôn chưa đưa tiền cho T). Sau đó, Muôn đổ gói Heroin vừa mua được của T ra rồi Muôn cùng với T, Chiến sử dụng hết bằng hình thức “hít”. Sau đó, Muôn trả cho T 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng là tiền mua Heroin, đồng thời Chiến cũng trả cho T số tiền 120.000 đồng (gồm 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng trả tiền mua Heroin và 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng cho T để mua nước uống) là tiền mua Heroin. Sau khi nhận tiền bán Heroin cho Muôn, Chiến xong, T điều khiển xe đi về nhà. Còn Chiến lấy gói Heroin do Chiến vừa mua được của T ra để cùng Muôn sử dụng hết bằng hình thức “hít”. Ngay sau đó Chiến, Muôn bị lực lượng Công an huyện T kiểm tra, phát hiện lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ của Mè Văn Muôn, Vàng Văn Chiến: 01 mảnh giấy bạc màu trắng đã bị đốt cháy dở; 01 mảnh giấy màu trắng dùng để gói Heroin và 01 bật lửa gas màu đỏ, đã qua sử dụng. Tại chỗ Mè Văn Muôn, Vàng Văn Chiến khai nhận số Heroin vừa sử dụng là mua được của Lù Văn T. Căn cứ lời khai của Mè Văn Muôn, Vàng Văn Chiến, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã thi hành lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Lù Văn T về hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ của Lù Văn T trong quá trình giữ người trong trường hợp khẩn cấp gồm: 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu “THĂNG LONG” màu vàng bên trong đựng 03 gói Heroin (trong đó 01 gói được gói bằng mảnh nilon màu xanh và 02 gói được gói bằng mảnh giấy màu trắng) có tổng khối lượng là 0,41 gam; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE RSX, màu sơn đen đỏ, biển kiểm soát 25B1-631.49 và số tiền 220.000 đồng là số tiền T bán Heroin cho Chiến và Muôn mà có.

Ngày 24/4/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện T đã tiến hành thành lập hội đồng mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu vật giám định và niêm phong vật chứng. Tại bản Kết luận giám định số 39 ngày 22/4/2023 của người giám định tư pháp theo vụ việc kết luận: Vật chứng thu giữ của Lù Văn T (tên gọi khác Lù Văn Th) có khối lượng là 0,41 gam.Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trích gửi 0,26 gam trong tổng số 0,41 gam chất bột màu trắng thu giữ của Lù Văn T, theo T khai nhận là Heroin gửi giám định. Tại bản kết luận giám định số 503/KL-KTHS, ngày 28/4/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: “03 (Ba) Mẫu chất bột, màu trắng (ký hiệu Mẫu 01 đến Mẫu 03) gửi giám định là ma túy, loại: Heroine (Heroin), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất”

Tại bản kết luận giám định số 504/KL-KTHS ngày 27/4/2023 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: “02 (Hai) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) có mã số hiệu BT 21818684, OG 19727603 và 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 20.000đ (Hai mươi nghìn đồng) có mã số hiệu AJ 17510167 gửi giám định đều là tiền thật”.

Bản cáo trạng số 102/CT-VKS-TU ngày 11/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T đã truy tố bị cáo Lù Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về Bản kết luận điều tra số 82/KLĐT ngày 21/8/2023 của Cơ quan cảnh sát Công an huyện T và Bản cáo trạng nêu trên.

Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo và xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Bản cáo trạng, không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T;

Tại lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với nội dung vụ án, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thu thập hợp pháp. Như vậy, có đủ cơ sở để xác định: Chiều ngày 24/4/2023, tại bản Nậm Cung, xã M, huyện T, bị cáo Lù Văn T đã mua được 02 gói Heroin với giá 300.000 đồng của một người không rõ lai lịch, rồi chia thành 05 gỏi nhỏ mục đích mang về bán lẻ kiếm lời. Khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, tại bản N, xã M, huyện T, Lù Văn T đã có hành vi cùng một lúc bán trái phép 02 gói Heroin cho 02 người là Vàng Văn Chiến và Mò Văn Muôn được tổng số tiền 220.000 đồng. Sau khi mua được Heroine, Chiến, Muôn sử dụng hết thì bị Công an huyện T phát hiện. Căn cứ lời khai nhận của Chiến, Muôn, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện T tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Lù Văn T về hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ của Lù Văn T 03 gói Heroin có tổng khối lượng 0,41 gam, mục đích để bán kiếm lời. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, quan điểm đề nghị về tội danh, mức hình phạt đối với bị cáo của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn toàn có cơ sở, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Khi thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy bị cáo nhận thức được việc mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện do hám lời. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, có tính chất rất nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn nên cần được xử lý nghiêm minh.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về nhân thân: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng sâu, vùng xa; bị cáo là đối tượng nghiện ma túy.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu vùng xa, trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật có phần còn hạn chế. Do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Không có.

Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài để răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền nhưng bị cáo nghề nghiệp làm ruộng, nguồn thu nhập thấp. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án:

0,15gam Heroin còn lại sau giám định, 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu “THĂNG LONG” màu vàng; 01 mảnh nilon màu xanh; 02 mảnh giấy màu trắng và một mảnh giấy màu trắng và 01 bật lửa gas màu đỏ, đã qua sử dụng. Xét thấy đây là vật chứng cấm lưu hành và không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy theo Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE RSX, màu sơn đen đỏ, biển kiểm soát 25B1-631.49, số máy: JA38E0504201, số khung: 3817KY030696 thu giữ của bị cáo nhưng do bị cáo mượn của anh Lù Văn B, anh B không biết việc bị cáo mượn để đi mua ma túy nên cần trả lại cho anh Lù Văn B theo Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự .

Số tiền 220.000đồng thu giữ của bị cáo là tiền do phạm tội mà có cần tich thu nộp ngân sách Nhà nước theo Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Những vấn đề liên quan:

Về nguồn gốc số Heroin, bị cáo Lù Văn T khai mua của 01 người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch tên là “Sòi” tại bản Nậm Cung, xã M, huyện T. Quá trình điều tra không định được nên không có căn cứ để điều tra xử lý.

Bị cáo Lù Văn T mượn và điều khiển 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE RSX, màu sơn đen đỏ, biển kiểm soát 25B1-631.49 của em trai là Lù Văn B dùng để đi mua Heroin. Quá trình điều tra xác định anh B không biết T dùng xe mô tô để đi mua Heroin, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không đề cập xử lý là đúng quy định.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lù Văn T, Vàng Văn Chiến, Mè Văn Muôn. Công an huyện T, tỉnh Lai Châu đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tạị Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lù Văn T; tên gọi khác Lù Văn Th phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/4/2023. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

3. Về vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy một phong bì công văn của Công an huyện T, bên trong đựng 0,15 gam Heroin còn lại sau giám định; 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu “THĂNG LONG” màu vàng; 01 mảnh nilon màu xanh; 02 mảnh giấy màu trắng.

Tịch thu tiêu hủy một phong bì công văn của Công an huyện T, bên trong đựng 01 mảnh giấy bạc màu trắng đã bị đốt cháy dở; 01 mảnh giấy màu trắng và 01 bật lửa gas màu đỏ, đã qua sử dụng.

Trả lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE RSX, màu sơn đen đỏ, biển kiểm soát 25B1-631.49, số máy JA38E0504201, số khung 3817KY030696, xe đã qua sử dụng cho anh Lù Văn B, sinh năm 2002; địa chỉ: bản N, xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 220.000đồng (Hai trăm hai mươi nghìn đồng) do bị cáo phạm tội mà có.

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 09 giờ 00 phút ngày 25/9/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T với Chi Cục thi hành án dân sự huyện T)

4. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết lên Tòa án nhân dân cấp trên.

Cỡ chữ