- Tranh chấp gì? án hình sự — "260 - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo bị cáo Đinh Văn N, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 139/2023/HS- ST ngày 17 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương về biện pháp chấp hành hình phạt.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 115/2023/HS-PT Ngày 10-8-2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Lộc
Các Thẩm phán: Ông Lê Quân Vương;
Ông Nguyễn Huỳnh Đức.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Hữu Minh Đức - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 116/2023/TLPT-HS ngày 29 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo Đinh Văn N. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 139/2023/HS-ST ngày 17 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương.
- Bị cáo có kháng cáo:
Đinh Văn N sinh năm 1969 tại tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: số 29/7, khu phố N, phường B1, thành phố D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: lái xe; trình độ văn hóa (học vấn): 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn D (đã chết) và bà Trần Thị H; bị cáo có vợ và 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 30/11/2022 cho đến nay, có mặt.
Ngoài ra, còn có 03 người đại diện hợp pháp của bị hại và 01 bị đơn dân sự không kháng cáo, không kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: khoảng 17 giờ 35 phút ngày 23/7/2022, Đinh Văn N điều khiển xe ô tô tải, biển số 51C-698.59 từ thành phố B, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đi về kho ở phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương, trên xe không chở hàng hoá, lưu thông trên đường ĐT 743A từ cầu vượt T về hướng đường Quốc lộ 1K. Khi đến giao lộ Ngã tư giao nhau giữa đường ĐT 743A với đường M và đường vào khu công nghiệp dệt may B1 thuộc khu phố T, phường B2, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Lúc này, đèn tín hiệu giao thông màu đỏ đang bật sáng, Đinh Văn N cho xe ô tô dừng chờ đèn tín hiệu màu xanh. Khi đèn tín hiệu màu xanh bật sáng, Đinh Văn N điều khiển xe ô tô chạy vào giao lộ, do thiếu chú ý quan sát nên trong lúc vượt lên trước xe mô tô biển số 59V2-616.83 do chị Vũ Thị Kim Ng điều khiển, phía sau xe chị Ng có chở mẹ ruột là Vũ Thị Th, sinh năm 1981 đang lưu thông cùng chiều, bị cáo N đã để phần đầu bên phải xe ô tô va chạm với tay cầm bên trái của xe mô tô, làm cho xe mô tô và chị Ng, bà Th ngã xuống đường. Hậu quả: bà Vũ Thị Th bị đa chấn thương và chết tại Trung tâm y tế thành phố D cùng ngày. Xe mô tô biển số 59V2-616.83 bị hư hỏng.
Biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông lúc 18 giờ 00 phút, ngày 23/7/2022 tại Đường ĐT 743A, khu phố T, phường B2, thành phố D, tỉnh Bình Dương, thể hiện: hiện trường của đoạn đường xảy ra tai nạn: là giao lộ ngã tư giao nhau giữa đường ĐT 743A với đường M và đường Khu công nghiệp Dệt may B1, có các đảo phân tuyến, có đèn tín hiệu xanh, đỏ đang hoạt động. Mặt đường được thảm nhựa cứng, bằng phẳng, không có vật cản che khuất tầm nhìn; có hệ thống đèn chiếu sáng công cộng đang hoạt động. Hiện trường tai nạn xảy ra nằm trong giao lộ ngã tư, trên phần đường bên phải của đường ĐT 743A có chiều từ ngã ba T (Quốc lộ 1A) về đường Quốc lộ 1K, chiều rộng mặt đường ĐT 743A khi đến giao lộ từ dải phân cách vào lề chuẩn lần lượt là 4,50m – 4.60m và qua giao lộ có chiều rộng từ dải phân cách vào lề chuẩn lần lượt là 3,70m – 4,90m; mặt đường M có dải phân cách chia phần đường, mỗi phần đường có vạch đơn, đứt nét, màu trắng chia 03 làn đường, chiều rộng làn đường từ dải phân cách chia phần đường vào đảo phân tuyến giao thông (11c) lần lượt là 5,0m – 3,40m-4,20m; chiều rộng làn đường từ dải phân cách chia phần đường vào đảo phân tuyến giao thông (11d) lần lượt là 4,50m – 3,80m-4,50m; chiều rộng đường vào Khu công nghiệp Dệt may B1 từ dải phân cách chia phần đường vào đảo phân tuyến giao thông (11f) lần lượt là 3,60m – 3,70m-5,80m; từ dải phân cách chia phần đường vào đảo phân tuyến giao thông (11e) lần lượt là 3,70m – 3,80m-5,20m
* Kết luận giám định pháp y tử thi số 766/GĐPY ngày 01/8/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, về nguyên nhân tử vong của Vũ Thị Th:
- Dấu hiệu chính qua giám định:
+ Bên ngoài nhiều vết xây xước da, tụ máu.
+ Gãy nhiều xương sườn.
+ Dập rách hai phổi.
+ Vỡ tim, gan.
+ Khoang màng phổi hai bên và ổ bụng chứa 2200ml máu.
+ Dập rách ruột non.
- Nguyên nhân chết của nạn nhân Vũ Thị Th: Do đa chấn thương.
* Căn cứ Kết luận giám định số 302/KL-KTHS(CH) ngày 01/8/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương:
1. Dấu vết va chạm giữa xe ô tô tải, biển số 51C-698.59 và xe mô tô hai bánh, biển số 59V2-616.83 là:
+ Vết trượt xước bám dính màng màu đen (dạng cao su) ở đầu bên phải cản trước đầu xe ô tô tải biển số 51C-698.59 có chiều từ trước về sau phù hợp với dấu vết trượt xước ở ngoài tay lái bên trái xe mô tô hai bánh biển số 59V2-616.83 có chiều từ sau về trước.
+ Dấu vết trượt xước, mất bụi, bám chất màu sáng ở đầu bu lông bánh bên phải trục thứ nhất xe ô tô tải biển số 51C-698.59 có chiều ngược chiều quay tiến bánh xe phù hợp với dấu vết hằn, trượt xước ở cạnh trái, cạnh dưới tay nắm sau yên xe mô tô hai bánh, biển số 59V2-616.83 có chiều từ sau về trước.
+ Dấu vết trượt xước, bám chất màu trắng ở mặt ngoài lốp xe bên phải trục giữa xe ô tô tải biển số 51C-698.59 có chiều từ mặt lăn vào mâm, ngược chiều quay tiến bánh xe phù hợp với dấu vết trượt xước, bám dính chất màu đen (dạng cao su) ở mặt trên cạnh sau tay nắm yên xe mô tô hai bánh biển số 59V2-616.83 có chiều từ sau về trước, từ phải qua trái, khi xe mô tô đã đổ ngã qua trái.
2. Cơ chế hình thành dấu vết va chạm giữa xe ô tô tải, biển số 51C-698.59 và xe mô tô hai bánh, biển số 59V2-616.83 là phần bên phải xe ô tô tải va chạm với phần bên trái xe mô tô (như mục 1, phần V) làm xe mô tô ngã đổ qua trái và va chạm với mặt đường, tạo ra dấu vết trên các phương tiện.
- Vị trí va chạm giữa xe ô tô tải, biển số 51C-698.59 và xe mô tô hai bánh, biển số 59V2-616.83 chiếu xuống mặt đường là khu vực trước bên trái bên trái vết cày, ký hiệu số 1 trên sơ đồ hiện trường (theo hướng từ ngã ba T về Quốc lộ 1K).
* Căn cứ Kết luận giám định số 54/KL-KTHS(SCKT) ngày 12/8/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương về giám định phương tiện gây tai nạn là xe ô tô tải, biển số 51C-698.59 xác định:
- Hệ thống lái: Có các cụm chi tiết đầy đủ, lắp đặt đúng vị trí, không phát hiện dấu vết hư hỏng do sự cố kỹ thuật.
- Hệ thống phanh: Có các cụm chi tiết đầy đủ, lắp đặt đúng vị trí, không phát hiện dấu vết hư hỏng do sự cố kỹ thuật.
* Kết quả xét nghiệm nồng độ cồn và ma tuý ngày 23/07/2022 của Trung tâm Y tế thành phố D, đối với Đinh Văn N và Vũ Thị Kim Ng; kết quả xét nghiệm ma tuý: âm tính, nồng độ cồn: 0.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 139/2023/HS- ST ngày 17 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương, đã quyết định:
1. Tuyên bố bị cáo Đinh Văn N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Đinh Văn N 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt thi hành án phạt tù.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về biện pháp tư pháp, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 29/5/2023, bị cáo Đinh Văn N có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa phúc thẩm phát biểu ý kiến: sau khi xét sử sơ thẩm, bị cáo có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo; bị cáo cung cấp bổ sung thêm tài liệu mới có mẹ là bà Trần Thị H được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì, mẹ, cha và anh trai có huy hiệu 50, 40 năm tuổi Đảng; nhận thấy trong vụ án này lỗi chính là do bị cáo điều khiển xe ô tô không chú ý quan sát và không giữ khoảng cách an toàn khi vượt xe cùng chiều tại nơi giao nhau gây ra hậu quả làm chết bà Vũ Thị Th nên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Tuy bị cáo có bổ sung tài liệu gia đình có công cách mạng nhưng nhận thấy, mức án mà cấp sơ thẩm tuyên xử đối với bị cáo 01 năm 03 tháng tù là không nặng. Đồng thời, tình hình tai nạn giao thông hiện nay trên địa bàn tỉnh Bình Dương xảy ra ngày càng nghiêm trọng do lỗi chủ quan từ người điều khiển phương tiện, cần xử lý nghiêm, nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đinh Văn N, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không tranh luận gì thêm.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo để có cơ hội chăm lo cho gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án và đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Đơn kháng cáo của bị cáo được thực hiện trong thời hạn luật định nên đủ điều kiện để Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào lời khai của bị cáo và các chứng cứ tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định: khoảng 17 giờ 35 phút, ngày 23/7/2022, Đinh Văn N điều khiển xe ô tô tải, biển số 51C-698.59 từ thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu lưu thông trên đường ĐT 743A từ cầu vượt T về hướng đường Quốc lộ 1K. Khi đến giao lộ ngã tư giao nhau giữa đường ĐT 743A với đường M và đường vào khu công nghiệp dệt may B1 thuộc khu phố T, phường B2, thành phố D, tỉnh Bình Dương do thiếu chú ý quan sát và không làm chủ tốc độ đã va chạm với xe mô tô biển số 59V2-616.83 do chị Vũ Thị Kim Ng đang điều khiển lưu thông cùng chiều, trên xe mô tô chị Ng có chở theo bà Vũ Thị Th, khiến cho người và xe mô tô ngã xuống đường, khi ngã xuống người của bà Th va đập vào sườn xe ô tô nên bị đa chấn thương, hậu quả bà Th chết tại Trung tâm y tế thành phố D cùng ngày và xe mô tô bị hư hỏng.
Hành vi của bị cáo N đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Do đó, Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo của bị cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt: Hội đồng xét xử xét thấy, mức hình phạt 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là phù hợp tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên kháng cáo yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt là không có cơ sở chấp nhận.
Đối với kháng cáo yêu cầu xin được hưởng án treo, tại cấp phúc thẩm, bị cáo cung cấp cung cấp thêm các giấy tờ: Huân chương kháng chiến hạng nhì tặng thưởng cho bà Trần Thị H; Quyết định tặng Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng cho bà Trần Thị H (mẹ ruột của bị cáo); Quyết định tặng Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng cho ông Đinh Văn D (cha ruột của bị cáo); Quyết định tặng Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng cho ông Đinh Thế S (anh ruột của bị cáo) là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự phát sinh tại cấp phúc thẩm. Bị cáo bị xử phạt tù không quá 03 năm, có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên, có khả năng tự cải tạo, không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù cũng đủ sức răn đe, giáo dục và không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Bị cáo đủ điều kiện hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 về án treo nên kháng cáo của bị cáo là có cơ sở chấp nhận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo về mức hình phạt là phù hợp, đối với đề nghị biện pháp chấp hành hình phạt là chưa phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận một phần đề nghị của Viện kiểm sát.
Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Về án phí hình sự phúc thẩm: do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
1. Chấp nhận kháng cáo bị cáo Đinh Văn N, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 139/2023/HS- ST ngày 17 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương về biện pháp chấp hành hình phạt.
2. Về trách nhiệm hình sự: tuyên bố bị cáo Đinh Văn N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
3. Về hình phạt: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo Đinh Văn N 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (10/8/2023).
Giao bị cáo về y ban nhân dân phường B1, thành phố D, tỉnh Bình Dương giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
4. Án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo Đinh Văn N không phải chịu.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao (Vụ GĐKT 1); - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương; - Phòng Hồ sơ – Công an tỉnh Bình Dương; - Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương (2); - Viện Kiểm sát nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương; - Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương; - Bị cáo (1), - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố D, tỉnh Bình Dương; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; - Thanh toán phiên tòa, NQ 18 (2); - Lưu VP (2), hồ sơ vụ án, NMT, 21. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trƣơng Văn Lộc |