- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con giữa Chị Huỳnh Thanh T với anh Nguyễn Chí L"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thanh T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 115/2023/HNGĐ-ST Ngày: 30 – 6 – 2023 V/v tranh chấp về hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Bạch Phiến.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Hoàng Minh;
2. Bà Võ Thị Tuyết Trinh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Thanh Phong – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Võ Hồng Nhân – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 205/2023/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 3 năm 2023 về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 85/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thanh T, sinh năm 1997. Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Có mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Chí L, sinh năm 1990. Địa chỉ: Số nhà A, ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Vắng mặt lần thứ hai, không rõ lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Huỳnh Thanh T trình bày:
Chị Huỳnh Thanh T và anh Nguyễn Chí L tổ chức đám cưới theo phong tục, tập quán địa phương vào ngày 10/7/2019, có đăng ký kết hôn ngày 17/7/2019, tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Chị T và anh L có quen biết, tìm hiểu nhau trước khoảng 01 năm mới đám cưới, sau đó mới đăng ký kết hôn. Việc anh chị kết hôn là tự nguyện, không bị ai cưỡng ép hay lừa dối kết hôn.
Sau khi kết hôn, anh chị chung sống với nhau hạnh phúc được vài tháng, thời gian sau anh chị thường xuyên cự cãi do anh L thường xuyên nhậu về kiếm chuyện vô cớ với chị. Sau khi sinh con thì vợ chồng bắt đầu xảy ra mâu thuẫn nhiều hơn, do anh L đi làm ở tỉnh Bình Dương, còn chị về nhà cha mẹ ruột để sinh con và nghỉ thai sản, trong thời gian này anh L không đưa tiền cho chị nuôi con, chi phí nuôi con chị phải xin cha mẹ của chị; vì vậy, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vả kéo dài. Trong thời gian mâu thuẫn anh chị sống ly thân và hàn gắn với nhau nhiều lần. Đến tháng 02 năm 2022 anh chị sống ly thân đến nay và không có hàn gắn tình cảm với nhau. Hiện nay, chị T không còn tình cảm vợ chồng với anh L.
Chị T và anh L có 01 con chung tên Nguyễn Huỳnh Uyên N, sinh ngày 04/08/2021. Hiện nay cháu đang sống với chị T.
Chị Huỳnh Thanh T yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
- Về hôn nhân: Chị Huỳnh Thanh T yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Chí L.
- Về con chung: Chị Huỳnh Thanh T yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Huỳnh Uyên N, sinh ngày 04/08/2021 và không yêu cầu anh Nguyễn Chí L cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Nguyễn Chí L không có ý kiến trình bày.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, cần phê phán rút kinh nghiệm.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thanh T: Cho chị Huỳnh Thanh T được ly hôn với anh Nguyễn Chí L; Giao cháu Nguyễn Huỳnh Uyên N, sinh ngày 04/08/2021 cho chị Huỳnh Thanh T được quyền nuôi dưỡng đến khi cháu thành niên; Anh Nguyễn Chí L không phải cấp dưỡng nuôi con do chị T không yêu cầu; Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét, giải quyết.
Tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án gồm:
- Đơn khởi kiện ngày 20/3/2023 của chị T.
- Giấy chứng nhận kết hôn giữa chị Huỳnh Thanh T và anh Nguyễn Chí L.
- Giấy khai sinh của cháu Nguyễn Huỳnh Yên N1.
- Biên bản xác minh ngày 11/5/2023 và Biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 12/5/2023.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Theo yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thanh T và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật đang tranh chấp là tranh chấp về hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Nguyễn Chí L cư trú tại số nhà A, ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn anh Nguyễn Chí L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa, không rõ lý do; nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh L là đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có tiến hành thu thập chứng cứ, nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về hôn nhân: Chị Huỳnh Thanh T và anh Nguyễn Chí L đăng ký kết hôn ngày 17/7/2019, tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Việc anh chị kết hôn là tự nguyện, không bị ai cưỡng ép hay lừa dối kết hôn. Việc kết hôn giữa chị Huỳnh Thanh T và anh Nguyễn Chí L là đúng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
Xét thấy, vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Nhưng trong thời gian chị T và anh L chung sống với nhau thì anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn, do anh L thường xuyên nhậu, không lo cho vợ con, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cự cãi và ly thân từ tháng 02 năm 2022 cho đến nay; Từ lúc anh chị ly thân đến nay, anh chị không có hàn gắn với nhau; chị T không còn tình cảm vợ chồng với anh L. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án thông báo cho anh L biết yêu cầu khởi kiện của chị T, nhưng anh L không đến Tòa án để hòa giải, cũng như không có văn bản trình bày ý kiến của mình gửi cho Tòa án đối với yêu cầu khởi kiện của chị T. Điều này chứng minh, anh chị đã không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau để cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc. Từ đó cho thấy, hôn nhân giữa chị T và anh L đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Huỳnh Thanh T đối với anh Nguyễn Chí L là phù hợp.
Về con chung: Chị Huỳnh Thanh T và anh Nguyễn Chí L có 01 con chung tên Nguyễn Huỳnh Uyên N, sinh ngày 04/08/2021. Xét thấy, cháu N đang sống cùng với chị T; Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án, anh L không có yêu cầu được quyền nuôi con. Vì vậy, để tránh việc thay đổi môi trường sống của cháu, đảm bảo cho cháu được phát triển đầy đủ về mặt thể chất và tinh thần, tiếp tục giao cháu N cho chị T được quyền trực tiếp nuôi con là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con:
Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Huỳnh Thanh T không yêu cầu anh Nguyễn Chí L cấp dưỡng nuôi con. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, chị T cho rằng giữa anh chị không có tài sản chung và nợ chung, nhưng không có ý kiến của anh L, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết trong vụ án này; nếu sau này có phát sinh tranh chấp sẽ được xem xét, giải quyết bằng vụ án khác.
Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với quy định pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí: Chị Huỳnh Thanh T phải chịu án phí về hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 69, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thanh T.
- Về hôn nhân: Chị Huỳnh Thanh T được ly hôn với anh Nguyễn Chí L.
- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Huỳnh Uyên N, sinh ngày 04/08/2021 cho chị Huỳnh Thanh T được quyền trực tiếp nuôi con.
Anh Nguyễn Chí L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Anh Nguyễn Chí L không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị Huỳnh Thanh T có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh Nguyễn Chí L.
Anh Nguyễn Chí L không phải cấp dưỡng nuôi con, do chị Huỳnh Thanh T không yêu cầu.
- Về tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Về án phí:
Chị Huỳnh Thanh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001394 ngày 20/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp. Chị Huỳnh Thanh T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Anh Nguyễn Chí L không phải chịu án phí.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND huyện Thanh Bình; - Chi cục THADS huyện Thanh Bình; - UBND xã Tân Phú, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp (ĐKKH số 45, ngày 17/7/2019); - TAND tỉnh Đồng Tháp; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Bạch Phiến |