vanban.org

Bản án 115/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị C đối với anh Nguyễn Viết S về việc "ly hôn và tranh chấp về nuôi con".

Về hôn nhân: cho ly hôn giữa chị Phạm Thị C và anh Nguyễn Viết S . Về con chung: có 04 con chung tên là Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1994; Nguyễn Viết A, sinh năm 1996; Nguyễn Viết E, sinh năm 1999 và Nguyễn Viết M, sinh ngày 09/10/2008. Hiện các cháu H, A và E đã đủ tuổi thành niên, có khả năng lao đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Phạm Thị C yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Viết S"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị C đối với anh Nguyễn Viết S về việc "ly hôn và tranh chấp về nuôi con".
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUẾ SƠN
TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 115/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 05-7-2023
V/v: “ly hôn và tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: bà Nguyễn Thị Mai Loan.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Cao Đức Hùng;

2. Bà Đỗ Thị Linh Phương.

- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Hồ Thu Thảo, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: bà Hồ Minh Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 7 năm 2023, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 44/2023/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 3 năm 2023 về “ly hôn và tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 53/2023/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị Phạm Thị C (Phạm Thị Kim C), sinh năm 1974. Vắng mặt

- Bị đơn: anh Nguyễn Viết S, sinh năm 1967. Vắng mặt

Cùng địa chỉ: thôn G, xã P, huyện S, tỉnh Quảng Nam.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 10/3/2023, bản tự khai, đơn xin xét xử vắng mặt và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn - chị Phạm Thị C trình bày:

Về hôn nhân: chị và anh Nguyễn Viết S tự nguyện kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã P, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào năm 1993. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn. Vợ chồng không cùng quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Nay chị thấy vợ chồng không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh S.

Về con chung: có 04 con chung tên là Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1994; Nguyễn Viết A, sinh năm 1996; Nguyễn Viết E, sinh năm 1999 và Nguyễn Viết M, sinh ngày 09/10/2008. Hiện các cháu H, A và E đã đủ tuổi thành niên, có khả năng lao động nên không yêu cầu giải quyết. Anh S đang trực tiếp nuôi cháu M. Khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục giao cháu M cho anh S nuôi dưỡng đến tuổi thành niên. Chị không cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: không có.

Đối với bị đơn - anh Nguyễn Viết S: từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh S, nhưng anh S vắng mặt không có lý do và không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị C.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 71, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị C về ly hôn và nuôi con chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng:

. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: anh Nguyễn Viết S có nơi cư trú tại thôn G, xã P, huyện S, tỉnh Quảng Nam. Chị Phạm Thị C yêu cầu ly hôn với anh S và giao cháu Mạnh cho anh S trực tiếp nuôi dưỡng nên quan hệ pháp luật được xác định là “ly hôn và tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam theo khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về sự vắng mặt của đương sự: tại phiên tòa, nguyên đơn - chị Phạm Thị C có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn - anh Nguyễn Viết S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 và 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự tại phiên tòa.

. Về nội dung vụ án:

. Về hôn nhân: chị Phạm Thị Cvà anh Nguyễn Viết S tự nguyện kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã P, huyện S, tỉnh Quảng Nam cấp Giấy chứng nhận kết hôn năm 1993 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Theo chị C, sau khi kết hôn, vợ chồng anh chị chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không cùng quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Ngày 13/3/2023, Tòa án đã tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân tại Ủy ban nhân dân xã Quế Phong, tuy nhiên chính quyền địa phương không rõ nguyên nhân mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân của chị C và anh S. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh S không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu của chị C. Điều đó chứng tỏ mâu thuẫn giữa vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị C là phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

. Về con chung: theo chị C, giữa chị và anh S có 04 con chung tên là Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1994; Nguyễn Viết A, sinh năm 1996; Nguyễn Viết E, sinh năm 1999 và Nguyễn Viết M, sinh ngày 09/10/2008. Hiện các cháu H, A và E đã đủ tuổi thành niên, có khả năng lao động nên không yêu cầu giải quyết. Khi ly hôn, chị C yêu cầu được tiếp tục giao cháu M cho anh S nuôi dưỡng đến tuổi thành niên.

Trong quá trình giải quyết vụ án, anh S không có ý kiến về yêu cầu của chị C. Hiện nay, cháu Mạnh đang do anh S trực tiếp nuôi dưỡng. Tại bản tự khai, cháu M có nguyện vọng được tếp tục sống với anh S. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con, ổn định học tập và sinh hoạt nên cần tiếp tục giao cháu M cho anh S trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi) là phù hợp với quy định tại các Điều 81 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: anh S không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Chị C có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung, không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Các đương sự có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình.

. Về tài sản chung: không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về nợ chung: không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí: chị Phạm Thị C phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

. Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 238, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị C đối với anh Nguyễn Viết S về việc "ly hôn và tranh chấp về nuôi con".

1. Về hôn nhân: cho ly hôn giữa chị Phạm Thị C và anh Nguyễn Viết S .

2. Về con chung: có 04 con chung tên là Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1994; Nguyễn Viết A, sinh năm 1996; Nguyễn Viết E, sinh năm 1999 và Nguyễn Viết M, sinh ngày 09/10/2008. Hiện các cháu H, A và E đã đủ tuổi thành niên, có khả năng lao động nên không yêu cầu giải quyết. Giao cháu Nguyễn Viết M, sinh ngày 09/10/2008 cho anh Nguyễn Viết S trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi). Anh S không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Chị C có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về tài sản chung: không yêu cầu giải quyết.

4. Về nợ chung: không có.

5. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng chị Phạm Thị C phải chịu, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm mà chị C đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004967 ngày 10/3/2023.

6. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo yêu cầu xét xử theo trình tự phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ