vanban.org

Bản án 115/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị Ngọc H với bị đơn ông Chìa C về ly hôn, tranh chấp nuôi con.

Về hôn nhân: Bà Võ Thị Ngọc H được ly hôn với ông Chìa C (Giấy chứng nhận kết hôn số 140 ngày 4-8-2015 tại Uỷ ban nhân dân xã Q, huyện M, tỉnh Sóc Trăng). Về con chung: Giao cháu Chìa Thị Xuân M (sinh ngày 11-7-2015), Chìa Thị Thanh T (sinh năm 03-11-2016) và Chìa Thị Cẩm L (sinh ngày 31-01-2018) ch… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con giữa Võ Thị Ngọc H và Chìa C"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị Ngọc H với bị đơn ông Chìa C về ly hôn, tranh chấp nuôi con.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN M
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 115/2023/HNGĐ-ST
Ngày 22-9-2023
V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Nhẫn

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Huỳnh Văn Hiệp

Bà Nguyễn Hồng Phượng

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện M, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Đặng Văn Tài - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 9 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 137/2023/TLST-HNGĐ ngày 28-7-2023 về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 228/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 6-9-2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Võ Thị Ngọc H, sinh năm 1995; địa chỉ nơi cư trú: Ấp T, xã Q, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. (Vắng mặt)

- Bị đơn: Ông Chìa C, sinh năm 1978; địa chỉ nơi cư trú: Ấp Đ, xã Q, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 25-7-2023, đơn thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện đề, đơn đề nghị Toà án giải quyết, xét xử vắng mặt cùng đề ngày 18-8-2023 và trong quán trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Võ Thị Ngọc H trình bày bà và ông Chìa C quen biết, tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Q, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 140 ngày 4-8-2015). Vợ chồng chung sống hạnh phúc khoảng 07 năm, đến khoảng tháng 5/2022 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, do ông C thường xuyên gây sự và đánh bà, do đó bà và ông C đã sống ly thân. Thời gian qua bà đã suy nghĩ và cảm thấy không thể tiếp tục chung sống, duy trì mối quan hệ vợ chồng với ông C. Nay bà yêu cầu được ly hôn với ông Chìa C. Về con chung bà và ông C có ba con chung tên Chìa Thị Xuân M (sinh ngày 11-7-2015), Chìa Thị Thanh T (sinh năm 03-11-2016) và Chìa Thị Cẩm L (sinh ngày 31-01-2018) hiện đang sống với bà. Khi ly hôn bà yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cả ba con chung và không yêu cầu ông Chìa C cấp dưỡng cho con. Tài sản chung, nợ chung giữa bà và ông C không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Bị đơn ông Chìa C đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng vắng mặt không có lý do và không có ý kiến gửi đến Tòa án.

Tại phiên tòa, bà H vắng mặt có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, ông C vắng mặt không có lý do; các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện M phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; người tham gia tố tụng là nguyên đơn đã chấp hành các quy định Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn vắng mặt không có lý do và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Về hôn nhân cho bà H được ly hôn với ông C; về ba con chung tiếp tục giao cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi, dành quyền thăm nom chăm sóc con chung cho ông C không ai được ngăn cản; về cấp dưỡng cho con, tài sản chung, nợ chung không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét; tuyên án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Ngọc H là vụ án hôn nhân và gia đình về“ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo quy định khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 14 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình; bị đơn ông Chìa C cư trú Ấp Đ, xã Q, huyện M, tỉnh Sóc Trăng nên Tòa án nhân dân huyện M thụ lý, xét xử sơ thẩm theo quy định điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; tại phiên tòa, bà H vắng mặt có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, ông C được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà H và ông C.

[2] Về hôn nhân: Bà H và ông C kết hôn đã được Ủy ban nhân dân xã Q, huyện M, tỉnh Sóc Trăng cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 140 ngày 4-8-2015 là hôn nhân hợp pháp quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình. Theo bà H trình bày từ khoảng tháng 5/2022 thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, do ông C thường xuyên gây sự và vợ chồng đã sống ly thân cho đến nay. Qua xác minh địa phương không nắm rõ nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn ly hôn, tranh chấp nuôi con giữa bà H và ông C. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tạo điều kiện để đương sự gặp gỡ hòa giải các mâu thuẫn, đoàn tụ nhưng bà H vẫn kiên quyết xin ly hôn, ông C nhận văn bản của Toà án tống đạt thông báo về yêu cầu khởi kiện của bà H đối với ông nhưng ông vắng mặt không có lý do. Điều này thể hiện bà H và ông C sau khi ly thân thì mỗi người tự sống cuộc sống riêng, không quan tâm đến nhau, tình cảm vợ chồng đã không còn, không thể hàn gắn được nữa, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc không đạt được. Xét bà H yêu cầu ly hôn là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Bà H trình bày bà và ông C có 03 con chung tên Chìa Thị Xuân M (sinh ngày 11-7-2015), Chìa Thị Thanh T (sinh năm 03-11-2016) và Chìa Thị Cẩm L (sinh ngày 31-01-2018), sau khi bà và ông C ly thân thì 03 con chung sống cùng với bà và gia đình bà, những khi bà đi làm thì ông C rước các con về nhà ông C chơi, khi bà về thì bà rước các con về trực tiếp chăm sóc, nên bà yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cả 03 con chung và không yêu cầu ông C cấp dưỡng cho con; ông C không có ý kiến về con chung gửi đến Toà án. Xét thấy, cháu Chìa Thị Xuân M, Chìa Thị Thanh T, Chìa Thị Cẩm L vốn được bà H trực tiếp chăm sóc từ nhỏ và cháu Chìa Thị Xuân M đã trên 08 tuổi có nguyện vọng được tiếp tục sống cùng bà H. Vì vậy, cần tiếp tục giao cả 03 cháu cho bà H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là đảm bảo tốt nhất sự phát triển của cháu trong thời điểm hiện tại, phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện của bà H, ông C, đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; ông C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định pháp luật mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Về cấp dưỡng cho con bà H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà H trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; ông C không có ý kiến về vấn đề này gửi đến Tòa án, vì vậy Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có cơ sở, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà H phải chịu theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và hướng dẫn tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 273, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 14 Điều 3, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị Ngọc H với bị đơn ông Chìa C về ly hôn, tranh chấp nuôi con.

- Về hôn nhân: Bà Võ Thị Ngọc H được ly hôn với ông Chìa C (Giấy chứng nhận kết hôn số 140 ngày 4-8-2015 tại Uỷ ban nhân dân xã Q, huyện M, tỉnh Sóc Trăng).

- Về con chung: Giao cháu Chìa Thị Xuân M (sinh ngày 11-7-2015), Chìa Thị Thanh T (sinh năm 03-11-2016) và Chìa Thị Cẩm L (sinh ngày 31-01-2018) cho bà Võ Thị Ngọc H tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đã thành niên; ông Chìa C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định pháp luật mà không ai được cản trở.

- Về cấp dưỡng cho con: Bà Võ Thị Ngọc H không yêu cầu, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Võ Thị Ngọc H trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; ông Chìa C không có ý kiến về vấn đề này gửi đến Tòa án, vì vậy Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

2. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà Võ Thị Ngọc H phải chịu 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0010266 ngày 27-7-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện M, tỉnh Sóc Trăng.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ