- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn X - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lò Văn X phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 115/2022/HSST Ngày: 23/9/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Bình
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Xuân Dũng; Ông Nguyễn Xuân Định.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tuấn- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè tham gia phiên tòa: Ông Võ Văn Tuấn- Kiểm sát viên.
Trong ngày 23 tháng 9 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Tè xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 117/2022/TLST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 120/2022/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2022 đối với bị cáo:
Lò Văn X, tên gọi khác Không- sinh năm 1983, tại huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.
Nơi ĐKHKTT Bản M, xã M, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu; Nơi ở: Bản M, xã M, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hoá: 5/12; Chức vụ đoàn thể, chính quyền: Không; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt nam; Con ông: Lò Văn P, sinh năm 1944, con bà: Đao Thị V (đã chết); Bị cáo có vợ là: Tống Thị H, sinh năm 1987 và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2006, con nhỏ nhất sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/4/2022 tại nhà tạm giữ Công an huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu đến nay có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Lò Thị T, sinh năm 1969
Địa chỉ: Khu phố A, thị trấn Mường Tè, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu. Có đơn xin vắng mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Trần Văn Hùng- Luật sư cộng tác viên tại trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lai Châu. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 30/4/2022, Lò Văn X, sinh năm 1983, trú tại bản M, xã M, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu một mình điều khiển chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha, loại xe Surius, màu cam đen, biển kiểm soát 25M1 - 083.37 (chiếc xe này do X mượn của bà Lò Thị T, sinh năm 1969, trú tại khu phố A, thị trấn Mường Tè vào khoảng tháng 4 năm 2022) di chuyển từ nhà đến khu vực bản Nậm Pặm cũ (nay sáp nhập và đổi tên thành bản Pắc Ma), xã Mường Tè để tìm mua Heroine về sử dụng. Khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, khi di chuyển đến đoạn đường ngã ba rẽ vào bản Nậm Pặm, X gặp một người phụ nữ dân tộc La Hủ lạ mặt. Qua trao đổi, X mua được của người này 01 gói Heroine, bên ngoài được gói bằng một mảnh nilon màu hồng với giá 02 triệu đồng. X cất giấu gói Heroine đã mua được vào trong túi quần bên trái đang mặc rồi điều khiển xe máy đi về nhà. Hồi 11 giờ 20 phút cùng ngày, khi X di chuyển đến Km số 241, quốc lộ 4H, thuộc bản Nậm Củm, xã Mường Tè thì bị tổ công tác Công an xã Mường Tè phát hiện bắt quả tang cùng với tang vật là gói Heroine mà X đang cất giấu trong túi quần. Tổ công tác đã mời người chứng kiến, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng theo quy định của pháp luật.
Tại bản kết luận giám định tư pháp số 43 ngày 30/4/2022 của người giám định tư pháp theo vụ việc Công an huyện Mường Tè, đã kết luận: 01 gói chất bột khô, màu trắng thu giữ của Lò Văn X có khối lượng là 7,05 gam.
Tại bản kết luận giám định số 368 ngày 03/5/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: Mẫu chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, loại: Heroine.
Về vật chứng của vụ án: 7,05 gam Heroine; 01 mảnh nilon màu hồng; 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha, loại xe Surius, màu cam đen, biển kiểm soát 25M1 - 083.37. Trong số 7,05 gam Heroine, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mường Tè đã trích 0,86 gam gửi đi giám định, không hoàn lại mẫu vật. Đối với chiếc xe máy, ngày 07/7/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý, trả lại tài sản cho chủ sở hữu. Các vật chứng còn lại đang được bảo quản theo quy định của pháp luật.
Tại bản cáo trạng số 74/CT- VKSMT ngày 05/9/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè truy tố bị cáo Lò Văn X về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên Tòa Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lò Văn X phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lò Văn X từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 6,19 gam Heroine; 01 mảnh nilon màu hồng.
01 chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha, loại xe Surius, màu cam đen, biển kiểm soát 25M1 - 083.37 đã được trả lại cho chủ sở hữu nên không đề cập giải quyết.
Bị cáo nhất trí với bản cáo trạng, bản luận tội của Viện kiểm sát, không bổ sung gì chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.
Người bào chữa cho bị cáo nhất trí với nội dung bản cáo trạng, nội dung bản luận tội. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế- xã hội khó khăn, ít hiểu biết pháp luật, tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xem xét cho bị cáo mức án phù hợp, thấp nhất của khung hình phạt và xin miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo và miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Bị cáo nhất trí không bổ sung gì vào bản luận cứ và xin giảm nhẹ hình phạt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn xin vắng mặt và không đề nghị gì nên không đề cập giải quyết.
Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Mường Tè, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp.
Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên Tòa và trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội phù hợp với lời khai nhận tội tại cơ quan điều tra, biên bản thu giữ, niêm phong vật chứng, kết luận giám định về chất ma túy, lời khai của người làm chứng, các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Tòa án đã có đủ căn cứ kết luận: Hồi 11 giờ 20 phút, ngày 30/4/2022, tại Km số 241, quốc lộ 4H, thuộc bản Nậm Củm, xã Mường Tè, Lò Văn X đang tàng trữ trái phép 7,05 gam Heroine để sử dụng thì bị tổ công tác Công an xã Mường Tè phát hiện, bắt quả tang.
Hành vi nêu trên của bị cáo Lò Văn X là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến khách thể được pháp luật hình sự Việt Nam bảo vệ, đó là chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và biết rõ hành vi phạm tội của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng để thỏa mãn nhu cầu cá nhân nên vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì chất ma túy không những trực tiếp hủy hoại sức khỏe con người, làm suy thoái giống nòi, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội và an ninh quốc gia mà còn là nguyên nhân chủ yếu làm gia tăng tội phạm khác.
Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự thấy: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế- xã hội khó khăn. Nên cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội và nhân thân của bị cáo về hành vi phạm tội của mình. Hội đồng xét xử xét thấy cần có một mức án phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội đồng thời để nâng cao ý thức pháp luật trong nhân dân, đảm bảo công tác phòng ngừa chung cho xã hội. Do đó mức hình phạt như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là hoàn toàn phù hợp, cần chấp nhận. Đề nghị của người bào chữa xem xét cho bị cáo mức án phù hợp, thấp nhất của khung hình phạt là không đảm bảo tính răn đe, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
Đối với người phụ nữ dân tộc La Hủ lạ mặt mà theo lời khai đó là người đã bán Heroine cho bị cáo: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra không xác định được người đó là ai nên không thể xem xét xử lý, Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Việc Lò Văn X sử dụng chiếc xe máy đã mượn của bà Lò Thị Tải trước đó để đi mua Heroine về sử dụng: Do bà Lò Thị Tải không biết X sử dụng chiếc xe máy để đi mua Heroine nên không đồng phạm với X.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Lò Thị Tải có đơn xin vắng mặt và không đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự. Bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, xét thấy điều kiện hoàn cảnh kinh tế của bị cáo khó khăn, thuộc hộ nghèo và không có điều kiện thi hành, Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với số Heroine còn lại 6,19 gam sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành và 01 mảnh nilon không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha, loại xe Surius, màu cam đen, biển kiểm soát 25M1 - 083.37, có số khung RLCUE3240HY117609, số máy E3X9E-3345, đã qua sử dụng và 01 chìa khóa, ngày 07/7/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mường Tè đã ra quyết định trả lại chiếc xe trên cho chủ sở hữu là bà Lò Thị Tải. Hội đồng xét xử chấp nhận và không đề cập giải quyết.
Về án phí: Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/UBTVQH 14. Gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo, nên cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Quyền kháng cáo của bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan theo quy định tại các Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Lò Văn X phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng: Điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 47 Bộ luật hình sự. Điều 106; 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết 326/UBTVQH 14.
Xử phạt bị cáo Lò Văn X 05 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/4/2022.
Tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án.
2. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 6,19 gam Heroine và 01 mảnh nilon màu hồng.
(Vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra Công an huyện Mường Tè và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Mường Tè ngày 06/9/2022).
3. Án phí: Miễn toàn bộ án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn X
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết công khai tại trụ sở UBND thị trấn Mường Tè, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lai Châu (01); - VKS ND tỉnh Lai Châu (01); - VKSND huyện (01); - Công an huyện + THAHS (02); - THADS huyện (01); - Bị cáo; Người có QLNVLQ; người bào chữa (03); - Lưu HSVA (01); - Lưu TA | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên Tòa Vũ Văn Bình |