- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn H tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? * Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn H (Kiệt) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ L TỈNH BÌNH THUẬN Số: 115/2022/HS-ST Ngày: 23-12-2022 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ L
Thành phần HĐXX sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Thị Yến Nhi
Các Hội Thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Tường Duy và bà Đinh Thị Mỹ Hằng
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Công Thịnh – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã L.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã L tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Đông - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở TAND thị xã L xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự đã thụ lý số 102/2022/TLST-HS ngày 25/11/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 102/2022/QĐXXST-HS ngày 30/11/2022 đối với bị cáo:
PHẠM VĂN H – Tên gọi khác: Kiệt, sinh năm: 1995 tại Bình Thuận; Nơi cư trú: Khu phố 11, phường B, tỉnh Bình Thuận; Chỗ ở: Khu phố 5, phường B, thị xã L, tỉnh BÌnh Thuận; Nghề nghiệp: Làm biển; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn H, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1973; Vợ: Nguyễn Thị Thảo Th, sinh năm 1992; Có 02 con, lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt ngày 20/9/2022, hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ công an thị xã L (Có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 17 giờ 45 phút ngày 20/9/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã L bắt quả tang Phạm Văn H đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy tại nhà bà Nguyễn Thị Xuân T, thuộc khu phố 5, phường B, thị xã L. Thu giữ trong ngăn kéo thứ 02 từ trên xuống của tủ nhựa để trong phòng ngủ 01 bịch nylon màu trắng, kích thước (04x04)cm, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng, dạng rắn và thu giữ trên nền nhà 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy.
Tại Bản kết luận giám định số 1009/KL-KTHS ngày 26/9/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Bình Thuận kết luận: Mẫu M gửi đến giám định có khối lượng 0.8561 gam, là Methamphetamine.
Quá trình điều tra bị cáo khai nhận: Vào khoảng 20 giờ 00 phút ngày 14/9/2022, Phạm Văn H đến khu vực Xóm Sình thuộc khu phố 11, phường B, thị xã L mua của một đối tượng (không rõ nhân thân lai lịch) 01 bịch ma túy đá với giá 1000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, H mang về nhà mẹ vợ (bà Nguyễn Thị Xuân T) cất giấu để sử dụng dần. Đến khoảng 17 giờ ngày 20/9/2022, sau khi đi biển vào, H ghé vào nhà bà T nghỉ ngơi đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày thì bị cơ quan Cảnh sát điều tra phối hợp công an phường B phối hợp đến kiểm tra, phát hiện H có hành vi tàng trữ ma túy nên bắt giữ H cùng tang vật.
Vật chứng vụ án: 01 bịch nylon màu trắng, một đầu có nhíp kéo màu trắng viền màu xanh, kích thước (04x04)cm và 0.7612 gam mẫu vật còn lại sau giám định , được niêm phong trong phong bì số 1009 của Phòng Kỹ thuật hình sự công an tỉnh Bình Thuận; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy. Hiện Cơ quan điều tra đã chuyển sang Chi cục thi hành án dân sự thị xã L theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/11/2022
Tại bản cáo trạng số 111/CT-VKLG-HS ngày 23/11/2022 của VKSND thị xã L đã truy tố bị cáo Phạm Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 BLHS;
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã L giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Phạm Văn H và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Văn H, phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma tuý";
Đề nghị áp dụng: Điểm c Khoản 1 Điều 249 BLHS; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn H, mức án 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
* Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 1009 của Phòng Kỹ thuật hình sự công an tỉnh Bình Thuận và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận tội như cáo trạng truy tố và thống nhất với các điều khoản mà Viện kiểm sát nhân dân thị xã L viện dẫn trong cáo trạng. Bị cáo không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
“NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:”
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan công an thị xã L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, không có người nào có ý kiến, hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn H đã thừa nhận: Vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 20/9/2022, tại phòng ngủ của bị cáo tại khu phố 5, phường B, bị cáo Phạm Văn H đã có hành vi cất giấu 0.8561 gam Methamphetamine để sử dụng cho bản thân thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thị xã L phối hợp công an phường B bắt quả tang.
Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã L truy tố bị cáo Phạm Văn H về tội danh, điều luật áp dụng là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Hành vi của bị cáo là cố ý, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chính sách quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Bị cáo là người đã thành niên, có trình độ học vấn nhất định, nhận thức được ma tuý là chất gây nghiện, không chỉ gây ảnh hưởng đến sức khỏe người sử dụng, tệ nạn ma túy là một trong những nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác, nhưng để thỏa mãn cơn nghiện ma túy của mình, bị cáo đã bất chấp pháp luật, mua ma túy cất giấu để sử dụng cho bản thân. Do đó, cần phải xử lý nghiêm, để không những cải tạo, giáo dục chính bị cáo, đồng thời làm gương cho những người khác.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 BLHS nên Hội đồng xét xử cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[5] Về vật chứng vụ án: Đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành và không có giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/11/2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an thị xã L và Chi cục thi hành án dân sự thị xã L.
[6] Với đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo, hiện không xác định được, không có cơ sở xử lý, Viện kiểm sát không truy tố vì vậy Hội đồng xét xử không xét.
[7] Về án phí, bị cáo phải nộp án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn H (Kiệt) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
* Căn cứ: Điểm c Khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Phạm Văn H (Kiệt) 02 (Hai) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày bắt 20/9/2022.
* Căn cứ: Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
*Tuyên: Tịch thu tiêu hủy những vật chứng vụ án theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/11/2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an thị xã L và Chi cục thi hành án dân sự thị xã L.
* Căn cứ: Khoản 2 Điều 136 BLTTHS, Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự đã sửa đổi, bổ sung, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự đã sửa đổi, bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Ðiều 30 Luật thi hành án dân sự đã sửa đổi, bổ sung. * Nơi nhận:
| - TAND tỉnh Bình Thuận; - VKSND tỉnh Bình Thuận; - CA tỉnh Bình Thuận; - Sở tư pháp tỉnh Bình Thuận; - VKSND thị xã L; - THADS thị xã L; - Công an thị xã L; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu HS - Lưu Tòa án; - UBND địa phương nơi BC cư trú. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đào Thị Yến Nhi |