- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Thị H - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đỗ Thị H, Nguyễn Văn H phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 115/2022/HS-ST Ngày: 12-9-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Nguyệt.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Ma Thanh Trọng;
Ông Trịnh Tuấn Sỹ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Ngọc Dung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Khanh - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số107/2022/HSST ngày 29 tháng 8 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 114/2022/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 8 năm 2022 đối với các bị cáo:
1. Đỗ Thị H (tên gọi khác: Không), sinh ngày 11 tháng 01 năm 1994, tại tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 8/75, đường C, phường Vĩnh T, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; chỗ ở: Số 64, đường M, phường Vĩnh T, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không;Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Viết T, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1972; chồng: Nguyễn Văn H, sinh năm 1994; con: Có 01 con, sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử phạt hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/4/2022 đến ngày 11/8/2022 được thay đổi biện pháp ngăn chặn từ tạm giam sang cho gia đình bảo lĩnh đến nay, có mặt.
2. Nguyễn Văn H (tên gọi khác: Không), sinh ngày 11 tháng 01 năm 1994, tại huyện B, tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khối phố Trần P, thị trấn B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; chỗ ở: Số 64, đường M, phường Vĩnh T, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1959; vợ: Đỗ Thị H, sinh năm 1994; con có 01 con, sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không. nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử phạt hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/4/2022 đến nay. Có mặt.
- Người chứng kiến: Ông Nguyễn Văn Lập; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 15 giờ 05 phút ngày 19/4/2022, tại khu vực trước cổng khách sạn M, số 68, đường Ngô Q, phường Vĩnh T, thành phố L, tổ công tác Công an thành phố Lạng Sơn bắt quả tang Nguyễn Văn H có hành vi mua bán trái phép chất ma túy, thu giữ: 01 nilon màu đen bên trong chứa 02 bó quả màu xanh hình bầu dục có núm phình ra ở chỗ nối với cuống, Nguyễn Văn H khai nhận đều là quả thuốc phiện tươi của H cùng vợ là Đỗ Thị H mua ở thị trấn B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn đem về để bán kiếm lời, khi Nguyễn Văn H đang đi giao cho khách thì bị kiểm tra, bắt quả tang. Ngoài ra, tổ công tác còn thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh, lắp sim 01 số thuê bao: 0962.760.186, sim 2 số thuê bao: 0864.860.065, máy cũ đã qua sử dụng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ - đen, biển kiểm soát 12S1 - 038.52, xe cũ đã qua sử dụng. Cùng ngày 19/4/2022, Cơ quan điều tra đã khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn H, Đỗ Thị H, thu giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen, lắp sim 01 số thuê bao: 0962.765.924, sim 2: 0962.907.267, cũ đã qua sử dụng và 01 cân đồng hồ nhãn hiệu N, loại 10kg, cũ đã qua sử dụng và tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Đỗ Thị H.
Tại Cơ quan Điều tra Đỗ Thị H, Nguyễn Văn H khai như sau: Đỗ Thị H và Nguyễn Văn H có mối quan hệ là vợ chồng, cả hai đều không sử dụng chất ma túy. Ngày 14/4/2022, Đỗ Thị H nhận được điện thoại từ số 0877.414.962 của một nam thanh niên (không rõ họ, địa chỉ) đến số điện thoại 0962.907.267 của Đỗ Thị H, hỏi mua 01 (một) kg quả thuốc phiện tươi, Đỗ Thị H đồng ý và báo giá 2.200.000 đồng, nếu mua thì đặt cọc trước 1.100.000 đồng. Sau đó Đỗ Thị H gọi điện đến số điện thoại 0845.049.333 hỏi mua với một người phụ nữ tên T ở thị trấn B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn 01 (một) kg quả thuốc phiện tươi, người tên T báo giá với Đỗ Thị H là 1.350.000 đồng. Ngày 16/4/2022, Đỗ Thị H gọi lại vào số điện thoại 0877.414.962 trao đổi thống nhất với người đặt mua quả thuốc phiện tươi và yêu cầu người đàn ông đặt cọc trước một nửa số tiền, người đan ông đó nhất trí và sau đó Đỗ Thị H đã nhận số tiền đặt cọc trước 1.000.000 đồng. Ngày 18/4/2022, Đỗ Thị H gọi trao đổi thống nhất nội dung mua bán quả thuốc phiện với T, theo đó sáng sớm ngày 19/4/2022 T sẽ để 01 kg quả thuốc phiện ở đầu ngõ thuộc khối phố Trần P, thị trấn B, huyện B, Nguyễn Văn H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 12S1 – 038.52 chở Đỗ Thị H từ thành phố Lạng Sơn cùng đi đến thị trấn B, huyện B. Khoảng 05 giờ 30 sáng ngày 19/4/2022, Đỗ Thị H một mình đi bộ ra khu vực đầu ngõ để lấy 01 túi nilon màu đen chứa quả thuốc phiện tươi do T để sẵn ở đầu ngõ nhà bố mẹ chồng Đỗ Thị H thuộc khối phố Trần P, thị trấn B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Nguyễn Văn H điều khiển xe đến đón Đỗ Thị H ngồi phía sau cầm túi quả thuốc phiện rồi cùng nhau đi từ thị trấn B đi về nhà trọ tại thành phố Lạng Sơn. Khoảng 15 giờ ngày 19/4/2021, Nguyễn Văn H gọi điện thoại vào số 0877.414.962 trao đổi thống nhất với nam thanh niên về địa điểm giao quả thuốc phiện tươi và lấy nốt số tiền còn lại là 1.200.000 đồng, người đàn ông đó hẹn Nguyễn Văn H địa điểm giao tại khu vực cổng khách sạn M, đường Ngô Q, phường Vĩnh T, thành phố Lạng Sơn. Sau đó Nguyễn Văn H treo túi nilon màu đen đựng quả thuốc phiện tươi ở giá để đồ xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 12S1 – 038.52 và điều khiển xe đi giao thì bị phát hiện, bắt quả tang như đã nêu trên.
Kết luận giám định số 140/KL-KTHS ngày 21/4/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn, kết luận: 02 bó quả hình bầu dục, màu xanh, gửi giám định đều là quả thuốc phiện tươi, có tổng khối lượng 1,1kg (đã trừ bì).
Tại cơ quan Điều tra, Nguyễn Văn H, Đỗ Thị H thành khẩn khai nhận toàn bộ về hành vi phạm tội của mình.
Tại phiên tòa bị cáo Đỗ Thị H, Nguyễn Văn H đã thừa nhận: Do hám lợi đã mua quả thuốc phiện tươi về đem bán lại để bán kiếm lời. Vào hồi 15 giờ ngày 19/4/2022, tại khu vực trước cửa khách sạn M, số 68, đường Ngô Q, phường Vĩnh T, thành phố L, bị cáo Nguyễn Văn H đang thực hiện hành vi mang 1,1 kg quả thuốc phiện tươi đem đi bán cho khách thì bị lực lượng Công an phát hiện và bắt quả tang cùng với tang vật.
Tại bản Cáo trạng số 106/CT-VKS, ngày 26/8/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố các bị cáo Đỗ Thị H, Nguyễn Văn H về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố các bị cáo Đỗ Thị H, Nguyễn Văn H phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Đỗ Thị H mức án từ 25 tháng đến 27 tháng tù;
Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H mức án từ 24 tháng đến 26 tháng tù;
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền vì các bị cáo không có điều kiện để thi hành.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Đề nghị tịch thu để tiêu hủy gồm: 01 (một) hộp giấy màu trắng kích thước 12cm x 21cm x 32cm, niêm phong dán kín bên trong chứa quả thuốc phiện sau giám định; 01 (một) túi nilon màu đen 01 (một) phong bì niêm phong đựng mẫu vật sau giám định chất ma túy.
Tịch thu để hóa giá sung vào Ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu xanh (cũ, đã qua sử dụng, lắp kèm sim 1 số thuê bao: 0962.760.186; sim 2 số thuê bao: 0864.860.065); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen (cũ, đã qua sử dụng, lắp kèm sim 1 số thuê bao: 0962.765.924, sim 2 số thuê bao 0962.907.267); 01 (một) cân đồng hồ lò xo nhãn hiệu N màu xanh, phạm vi sử dụng từ 500g đến 10kg, cũ đã qua sử dụng và 01(một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ - đen, biển kiểm soát 12S1-038.52, xe cũ đã qua sử dụng. Tịch thu đối với bị cáo Đỗ Thị H số tiền 1.000.000 đồng do bán ma túy mà có để sung vào Ngân sách Nhà nước.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn. Lời nói sau cùng các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Về chứng cứ tài liệu trong vụ án được thu thập, bảo quản đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa các bị cáo Đỗ Thị H, Nguyễn Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn và phù hợp với các lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và các tài liệu khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Đỗ Thị H, Nguyễn Văn H phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn truy tố các bị cáo Đỗ Thị H, Nguyễn Văn H là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của con người, nền kinh tế của đất nước, hành vi đó gây mất trật tự an ninh tại địa phương. Giữa bị cáo Đỗ Thị H và Nguyễn Văn H có quan hệ là vợ chồng, có tính chất đồng phạm giản đơn, bị cáo Đỗ Thị H là khởi xướng trực tiếp giao dịch mua, bán quả thuốc phiện tươi; bị cáo Nguyễn Văn H là người đi giao ma túy. Các bi ̣ cáo nhâ ̣n thứ c được tác ha ̣i của ma túy, bị cáo biết hành vi Mua bán chất ma túy là trái phép bi ̣ pháp luâ ̣t ngăn cấm nhưng do hám lợi nên đã cố ý phạm tội, vì vậy đối với hành vi của các bị cáo cần phải được xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật để nhằm răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.
Ngoài việc đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội nêu trên cần xem xét những yếu tố liên quan đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và các yếu tố khác có liên quan của bị cáo, trên cơ sở xem xét lời đề nghị, luận tội của Viện kiểm sát.
Xét về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, các bị cáo đều có chung tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Các bị cáo tích cực tham gia hoạt động từ thiện ủng hộ cho Hội chữ thập đỏ tỉnh Lạng sơn, mỗi bị cáo ủng hộ số tiền 1.000.000đồng, ngoài ra bị cáo Đỗ Thị H đã tác động gia đình khắc phục hậu quả nộp số tiền thu lợi bất chính do bán ma túy mà có tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn, các bị cáo đều có thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tình tiết tăng nặng: Không có.
Từ những phân tích như trên Hội đồng xét xử thấy rằng cần xử phạt các bị cáo tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và nhân thân của các bị cáo. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền vì các bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng để thi hành.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) hộp giấy màu trắng kích thước 12cm x 21cm x 32cm, niêm phong dán kín bên trong chứa quả thuốc phiện sau giám định; 01 (một) túi nilon màu đen 01 (một) phong bì niêm phong đựng mẫu vật sau giám định chất ma túy, là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy. Đối với: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu xanh (cũ, đã qua sử dụng, lắp kèm sim 1 số thuê bao: 0962.760.186; sim 2 số thuê bao: 0864.860.065); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen (cũ, đã qua sử dụng, lắp kèm sim 1 số thuê bao: 0962.765.924, sim 2 số thuê bao 0962.907.267); 01 (một) cân đồng hồ lò xo nhãn hiệu N màu xanh, phạm vi sử dụng từ 500g đến 10kg, cũ đã qua sử dụng; và 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ - đen, BKS 12S1-038.52, xe cũ đã qua sử dụng, xác định có liên quan đến việc phạm tội cần tịch thu để hóa giá sung vào Ngân sách Nhà nước. Đối với số tiền 1.000.000 đồng do bị cáo Đỗ Thị H bán ma túy mà có, số tiền này bị cáo đã tiêu sài hết, ngày 12/9/2022 gia đình bị cáo đã nộp thay cho bị cáo số tiền 1.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn, do đó cần tịch thu để sung vào Ngân sách Nhà nước.
Đối với người phụ nữ tên T bán ma tuý cho các bị cáo, quá trình điều tra, xác định số điện thoại 0845.049.333 đăng ký tên chủ thuê bao là Vũ Tiến T (sinh năm 1982, trú tại khối phố L, thị trấn B, huyện B), sau khi đăng ký, Vũ Tiến T cho bạn là Dương Hà T (sinh năm 1994, nơi ĐKHKTT: Thôn V, xã P, huyện G, tỉnh Lạng Sơn; trú tại: Khối phố Trần P, thị trấn B, huyện B) sử dụng. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, lấy lời khai, đối chất giữa Đỗ Thị H với Dương Hà T, nhưng Dương Hà T không thừa nhận lời khai về việc mua bán quả thuốc phiện tươi của Đỗ Thị H. Xét thấy ngoài lời khai của Đỗ Thị H thì không có tài liệu nào khác để chứng minh việc mua bán quả thuốc phiện, do đó không có căn cứ để xử lý đối với Dương Hà T. Kiến nghị cơ quan Điều tra tiếp tục xác minh người phụ nữ tên T đã bán ma túy cho các bị cáo để làm rõ, xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với nam thanh niên sử dụng số điện thoại 0877.414.962 để liên lạc mua ma túy với các bị cáo, Cơ quan điều tra chưa xác minh, làm rõ được để xử lý do các bị cáo không biết lai lịch người này. Quá trình điều tra, xác minh số điện thoại trên đăng ký tên chủ thuê bao là Trần Thị Mỹ H (sinh năm 1972, trú tại C, huyện P, tỉnh Gia Lai); kết quả ủy thác xác minh, chị Trần Thị Mỹ H khai nhận không được đăng ký, sử dụng số điện thoại này, không quen biết Đỗ Thị H, Nguyễn Văn H, chưa bao giờ đến thành phố Lạng Sơn. Cơ quan điều tra không xác minh, làm rõ được để xử lý nên Hội đồng xét xử không có căn xử lý.
Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt đối với các bị cáo và hướng xứ lý vật chứng đúng quy định của pháp luật được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58, Điều 47 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ vào điểm a,b, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Đỗ Thị H, Nguyễn Văn H phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
2. Về hình phạt:
2.1 Xử phạt bị cáo Đỗ Thị H mức án 02 (hai) năm 01 tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án nhưng được trừ đi thời gian bị cáo đã bị tạm giam từ ngày 19/4/2022 đến ngày 11/8/2022.
2.2 Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H mức án 02 (hai) năm tù; thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ 19/4/2022.
3. Về xử lý vật chứng:
3.1 Tịch thu để tiêu hủy: 01 (một) hộp giấy màu trắng kích thước 12cm x 21cm x 32cm, niêm phong dán kín bên trong chứa quả thuốc phiện sau giám định; 01 (một) túi nilon màu đen 01 (một) phong bì niêm phong đựng mẫu vật sau giám định chất ma túy.
3.2 Tịch thu để hóa giá sung vào Ngân sách Nhà nước gồm: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu xanh (cũ, đã qua sử dụng, lắp kèm sim 1 số thuê bao: 0962.760.186; sim 2 số thuê bao: 0864.860.065); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen (cũ, đã qua sử dụng, lắp kèm sim 1 số thuê bao: 0962.765.924, sim 2 số thuê bao 0962.907.267); 01 (một) cân đồng hồ lò xo nhãn hiệu N màu xanh, phạm vi sử dụng từ 500g đến 10kg, cũ đã qua sử dụng và 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ - đen, BKS 12S1-038.52, xe cũ đã qua sử dụng;
(Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 29 tháng 8 năm 2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Lạng Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn).
3.3 Tịch thu sung công quỹ Nhà nước đối với bị cáo Đỗ Thị H số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng) để sung vào Ngân sách Nhà nước. Xác nhận, bị cáo Đỗ Thị H đã nộp đủ số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng) theo Biên lai thu tiền số AA/2021/0001131 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
4. Về án phí: Buộc các bị cáo Đỗ Thị H, Nguyễn Văn H mỗi người phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND TP. Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn; - Công an TP Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn; - Chi cục THADS thành phố Lạng Sơn; - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án, HCTP. THµNH VI£N HéI §åNG XÐT Xö | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SỞ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Thị Nguyệt THÈM PH¸N - CHñ TäA PHI£N TßA |