vanban.org

Bản án 115/2022/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 4, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 15/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Bị cáo Trương Văn Th 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 11 tháng 6 năm 2022.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu, tiêu hủy 01 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Trương Văn Th, Nguyễn Quang Trung (Điều tra viên) và hình dấu Công an Phường S, Quận 4, bên trong là m… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Văn Th - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Trương Văn Th 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 11 tháng 6 năm 2022.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 115/2022/HS-ST
Ngày: 15-12-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Th phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tần Quốc Bình

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Đông Nguyệt

2. Bà Đinh Kim Hoàng

- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Đăng Huy - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 tham gia phiên tòa: Bà Trần Thủy Quỳnh Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 121/2022/TLST-HS ngày 27 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 270/2022/HSST-QĐ ngày 11 tháng 11 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số số 282/2022/HSST-QĐ ngày 25 tháng 11 năm 2022 và Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 286/2022/HSST-QĐ ngày 30 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:

Trương Văn Th (Dương Văn Th); Giới tính: Nam; Sinh năm 1966 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Không có hộ khẩu thường trú; Nơi cư trú: Không có nơi cư trú nhất định; Nghề nghiệp: Xe ôm; Trình độ học vấn: 00/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Ngụy Đ (đã chết) và bà Trương Thị H (đã chết); Hoàn cảnh gia đình: Vợ là Phan Thị Xuân Nh, sinh năm 1969, có 02 con, lớn nhất sinh năm 1992, nhỏ nhất sinh năm 2004.

Tiền sự: Không

Tiền án: Không

Nhân thân:

Ngày 23/4/2013, bị Tòa án nhân dân Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 02 năm 06 tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/01/2015. Đã đóng án phí ngày 21/6/2013.

Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/6/2022 đến nay “có mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng tháng 3 năm 2022, Trương Văn Th quen biết đối tượng tên “Th1” (không rõ lai lịch). Do cần tiền tiêu xài, Th đồng ý nhận ma túy của “Th1” đem giao cho người khác để được hưởng tiền công từ 200.000 đồng đến 400.000 đồng/lần.

Khoảng 23 giờ, ngày 10/6/2022, sau khi nhận được điện thoại của đối tượng “Th1” , Trương Văn Th điều khiển xe máy mang biển số 52L5- 1470 đến kế số 556 Xô Viết Nghệ Tĩnh, Phường 25, quận Bình Thạnh gặp “Th1”, nhận 01 bao lì xì màu đỏ bên trong chứa 01 gói nylon chứa: 05 viên nén màu hồng và 01 gói nylon, chứa tinh thể không màu, là ma túy đem giao tại địa chỉ số 151 Đường B, Phường S, Quận 4. Sau khi bán ma túy, Th được nhận tiền công là 300.000 đồng. Khoảng 01 giờ 40 ngày 11/6/2022, Th điều khiển xe máy đến trước khu vực sảnh B Chung cư Rivergate, số 151-155 Đường B, Phường S, Quận 4 chờ bán ma túy, thì tổ tuần tra Công an Phường S, Quận 4 tuần tra, phát hiện Th có biểu hiện nghi vấn, nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra, Cơ quan Công an phát hiện trong túi áo bên phải của Th có một bao lì xì màu đỏ bên trong chứa 01gói nylon chứa: 05 viên nén màu hồng và 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, nghi vấn là ma túy, nên tiến hành thu giữ vật chứng và đưa Th về Công an Phường S, Quận 4 lập biên bản bắt người phạm tội quả tang (Bút lục 41-42).

Tại Kết luận giám định 3382/KL-KTHS ngày 20/06/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an TP. Hồ Chí Minh kết luận: 05 viên nén màu hồng ký hiệu mẫu m1 cần giám định (đã nêu ở mục II.1) có tổng khối lượng 2,8527g, không tìm thấy ma túy. Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m2 cần giám định (đã nêu ở mục II.1) là ma túy thể rắn, có khối lượng 2,3183g, loại Ketamine (Bút lục 45).

Tại Cơ quan điều tra Công an Quận 4, Trương Văn Th đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên. Qúa trình điều tra, Th khai nhận từ tháng 4 đến tháng 5 năm 2022, Th đã giao ma túy được 3 lần nhưng không nhớ rõ địa điểm, thời gian và số lượng ma túy nên không có căn cứ để xử lý Trương Văn Th về hành vi mua bán trái phép chất ma túy Nhều lần (Bút lục 77 – 96).

Đối với đối tượng giao ma túy cho Trương Văn Th có tên “Th1”, hiện Cơ quan điều tra Công an Quận 4 không xác định được lai lịch, nên không có cơ sở xử lý.

Đối với số điện thoại: 0902585302, 0566579999, 0936778868 sử dụng để liên lạc mua bán ma túy, Cơ quan điều tra Công an Quận 4 đã có công văn gởi Công ty viễn thông xác minh các số điện thoại trên, khi xác định được sẽ xử lý theo quy định.

Vật chứng vụ án và đồ vật thu giữ:

- 01 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Trương Văn Th, Nguyễn Quang Trung (Điều tra viên) và hình dấu Công an Phường S, Quận 4, bên trong là ma túy còn lại sau giám định.

- 01 (một) Điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh, IMEI 1: 353147114066774, IMEI 2: 353147119066779 đã qua sử dụng ( là điện thoại sử dụng để liên lạc mua bán ma túy).

- Tiền Ngân hàng NNVN: 300.000 đồng, là tiền công Th bán ma túy.

Tất cả vật chứng và đồ vật nêu trên đã được nhập vào kho vật chứng thuộc Công an Quận 4, gửi tiền và Kho bạc NN Quận 4, đề nghị chuyển Tòa án nhân dân Quận 4 giải quyết (bút lục 72-75).

Đối với xe máy hiệu Honda Dream màu tím đen, biển số 52L5-1470. Qua xác minh, xe máy trên do Phạm Thị Xuân Nh (vợ bị can Th, ngụ: 67 đường 489, ấp H, xã P, Củ Chi) là chủ sở hữu. Ngày 11/6/2022, Trương Văn Th mượn xe sử dụng. Chị Nh không biết Th sử dụng xe máy trên để đi giao ma túy. Cơ quan điều tra Công an quận 4 đã ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả xe máy trên cho chị Nh.

Tại Bản cáo trạng số 86/CT-VKS ngày 28/9/2022 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 truy tố bị cáo Trương Văn Th về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa: Bị cáo Trương Văn Th thừa nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 trình bày lời luận tội: Cáo trạng số 86/CT-VKS ngày 28/9/2022 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 truy tố bị Trương Văn Th về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Bị cáo thành khẩn khai báo. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Trương Văn Th từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù;

Về xử lý vật chứng, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu, tiêu hủy 01 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Trương Văn Th, Nguyễn Quang Trung (Điều tra viên) và hình dấu Công an Phường S, Quận 4, bên trong là ma túy còn lại sau giám định là vật nhà nước cấm lưu hành.

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 (một) Điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh, IMEI 1: 353147114066774, IMEI 2: 353147119066779 đã qua sử dụng là điện thoại sử dụng để liên lạc mua bán ma túy.

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 300.000 đồng tiền công bị cáo Th bán ma túy.

Phần tranh luận: Bị cáo không tranh luận.

Lời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 4, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

. Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Trương Văn Th thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã nêu. Qua lời khai của bị cáo, đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 01 giờ 40 ngày 11/6/2022, tại trước số 151-155 Đường B, Phường S, Quận 4, Tổ tuần tra Công an Quận 4 phát hiện, bắt quả tang Trương Văn Th có hành vi cất giữ trong túi áo phía bên phải của Th đang mặc khối lượng 2,3183g, là ma túy ở thể rắn, loại Ketamine, nhằm mục đích mua bán.

Hành vi của bị cáo Trương Văn Th đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

. Hành vi của bị can là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy. Bị cáo thành khẩn khai báo, nên khi lượng hình có xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Để có tác dụng giáo dục và răn đe, căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm cần có mức án tương xứng để xử phạt.

. Về xử lý vật chứng:

- 01 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Trương Văn Th, Nguyễn Quang Trung (Điều tra viên) và hình dấu Công an Phường S, Quận 4, bên trong là ma túy còn lại sau giám định là vật nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu, tiêu hủy.

- 01 (một) Điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh, IMEI 1: 353147114066774, IMEI 2: 353147119066779 đã qua sử dụng là điện thoại sử dụng để liên lạc mua bán ma túy cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 300.000 đồng tiền công bị cáo Th bán ma túy.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Trương Văn Th 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 11 tháng 6 năm 2022.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu, tiêu hủy 01 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Trương Văn Th, Nguyễn Quang Trung (Điều tra viên) và hình dấu Công an Phường S, Quận 4, bên trong là ma túy còn lại sau giám định là vật nhà nước cấm lưu hành.

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 (một) Điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh, IMEI 1: 353147114066774, IMEI 2: 353147119066779 đã qua sử dụng.

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 300.000 đồng.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/10/2022 giữa Công an Quận 4 với Chi cục Thi hành án dân sự Quận 4; Giấy nộp tiền ngày 08/9/2022 vào Kho bạc nhà nước Quận 4, TP. Hồ Chí Minh của Công an Quận 4).

- Căn cứ Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nôi nhaän:

Cỡ chữ