vanban.org

Bản án 115/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 25/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành M 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 29-6-2022.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân C 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 29-6-2022. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành M 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 29-6-2022.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN CHÂU
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 115/2022/HS-ST
Ngày 25 - 11- 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Minh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Bùi Duy Thấm;

2. Ông Lê Xuân Cúc.

Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Quốc Việt - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Trung Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 95/2022/TLST-HS ngày 06 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 115/2022/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2022 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Xuân C, sinh năm 1999 tại tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Thôn 5, xã A, huyện B, tỉnh Thanh Hoá; chỗ ở hiện nay: ấp D, xã E, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Không có; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Xuân Q và bà Nguyễn Thị Ngọc P; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Có 02 tiền sự: Quyết định số 70/QĐ-TA, ngày 10/8/2020 của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Xuân C, thời hạn chấp hành tại cơ sở cai nghiện là 15 tháng, kể từ ngày Nguyễn Xuân C bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Nguyễn Xuân C chưa chấp hành Quyết định này; Quyết định số 48/QĐ-XPHC, ngày 09/4/2022 của Công an xã F, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xử phạt Nguyễn Xuân C số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, đã nộp phạt xong, chưa hết thời gian được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 29-6-2022, chuyển tạm giam ngày 08-7-2022 cho đến nay (có mặt).

2. Nguyễn Thành M, sinh năm 1996 tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: ấp G, xã E, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn C1 và bà Nguyễn Thị T; vợ, con: Chưa có; tiền án: Có 01 tiền án: Bản án số 53/2019/HS-ST, ngày 17/7/2019 của Toà án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, xử phạt bị cáo Nguyễn Thành M 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/7/2020, chưa được xóa án tích; tiền sự: Có 01 tiền sự: Quyết định số 49/QĐ-XPHC, ngày 09/4/2022 của Công an xã F, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xử phạt Nguyễn Thành M số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, chưa hết thời gian được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29-6-2022, chuyển tạm giam ngày 08-7-2022 cho đến nay (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 16 giờ ngày 29/6/2022, Nguyễn Xuân C đến nhà Nguyễn Thành M, ngụ: ấp G, xã E, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh rủ M hùn tiền mua ma tuý mang về nhà M cùng nhau sử dụng thì được M đồng ý. Sau đó, M và C mỗi người hùn số tiền 150.000 đồng, C điện thoại cho chị Đinh Thị Ngọc T2 hỏi mua 300.000 đồng ma tuý, T2 đồng ý bán và kêu C đến nhà T2 để thực hiện việc mua bán. Khi đến trước nhà T2, C điện thoại thông báo cho T2 biết, lúc này có người thanh niên khoảng 26 tuổi, mặt đeo khẩu trang đứng phía trong hàng rào nhà T2 đưa cho C 01 bịch nylon bên trong có chứa ma tuý và nhận của C số tiền 300.000 đồng. Sau khi có được ma tuý, C cầm trên tay mang về nhà M, khi M và C đang chuẩn bị dụng cụ để cùng nhau sử dụng trái phép chất ma tuý thì bị Công an huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh phối hợp với Công an xã E, huyện Tân Châu phát hiện quả tang và thu giữ vật chứng.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh Nguyễn Xuân C, Nguyễn Thành M đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

* Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng: 01 (một) bịch nylon được hàn kín, bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng được niêm phong vào bì thư có chữ ký xác nhận của Nguyễn Xuân C. Kết luận giám định số: 772/KL- KTHS, ngày 06/7/2022, của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, kết luận: Mẫu tinh thể rắn màu trắng bên trong 01 (một) bịch nylon được hàn kín (ký hiệu M) gửi đến giám định là chất ma túy; Loại Methamphetamine; Khối lượng 0,2181 gam. Hoàn lại đối tượng giám định 01 (một) bì thư được niêm phong có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Thị Tuyết Mai, Trợ lý giám định Tạ Minh Phong và dấu tròn màu đỏ của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, bên trong có 01 (một) bịch nylon chứa tinh thể rắn màu trắng (ký hiệu M1) là Methaphetamine có khối lượng 0,1226 gam; 01 (một) điện thoại di động hiệu Starlight, số Imei có 6 số cuối là: 158167 của bị cáo C; 01 (một) cái nỏ thủy tinh; 01 (một) đoạn ống hút nhựa; 01 (một) chai nhựa.

* Kê biên tài sản: Qua xác minh thể hiện, Nguyễn Xuân C, Nguyễn Thành M không có tài sản, nên không tiến hành kê biên.

Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Xuân C, Nguyễn Thành M đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, vật chứng bị thu giữ như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh đã nêu.

Bản cáo trạng số 94/CT-VKSTC ngày 30 tháng 9 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh truy tố các bị cáo Nguyễn Xuân C, Nguyễn Thành M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo Nguyễn Xuân C, Nguyễn Thành M về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng. Đồng thời Đề nghị Hội đồng xét xử:

- Căn cứ điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân C từ 15 đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Căn cứ điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm h Khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành M từ 18 đến 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Không phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Xuân C, Nguyễn Thành M.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng, tài sản thu giữ trong vụ án theo đúng quy định của pháp luật.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Bị cáo C xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo M không trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của các bị cáo thể hiện: Tại phiên tòa bị cáo C khai nhận vào khoảng 16 giờ ngày 29-6-2022, bị cáo C đến nhà bị cáo M rủ M hùn tiền mua ma tuý để sử dụng thì được M đồng ý. Sau đó, M và C mỗi người hùn số tiền 150.000 đồng, C điện thoại cho chị Đinh Thị Ngọc T2 hỏi mua 300.000 đồng ma tuý, T2 đồng ý bán và kêu C đến nhà T2 để thực hiện việc mua bán. Khi đến trước nhà T2, C điện thoại thông báo cho T2 biết, lúc này có người thanh niên, mặt đeo khẩu trang đứng phía trong hàng rào nhà T2 đưa cho C 01 bịch nylon bên trong có chứa ma tuý và nhận của C số tiền 300.000 đồng. Sau khi có được ma tuý, C cầm trên tay mang về nhà M, khi M và C đang chuẩn bị dụng cụ để sử dụng thì bị Công an huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh bắt quả tang. Bị cáo M thừa nhận lời trình bày của bị cáo C là đúng không trình bày gì thêm. Lời khai nhận tội của bị cáo C, M là phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai người làm chứng cùng với vật chứng và các chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Tại Kết luận giám định số: 772/KL- KTHS, ngày 06/7/2022, của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, kết luận: Mẫu tinh thể rắn màu trắng bên trong 01 (một) bịch nylon được hàn kín (ký hiệu M) gửi đến giam định là chất ma túy; Loại Methamphetamine; Khối lượng 0,2181 gam.

Do đó đã đủ cơ sở kết luận các bị cáo Nguyễn Xuân C, Nguyễn Thành M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy, nên phải chịu trách nhiệm hình sự do chính hành vi của các bị cáo đã gây ra.

Khi Quyết định hình phạt cũng cần xem xét đến nhân thân vai trò và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho từng bị cáo.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành khẩn khai báo tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Xuân C không có tình tiết tăng nặng. Bị cáo Nguyễn Thành M có 01 tiền án: Bản án số 53/2019/HS-ST, ngày 17/7/2019 của Toà án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, xử phạt bị cáo Nguyễn Thành M 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/7/2020, chưa được xóa án tích, nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Xét thấy bị cáo C có 02 tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; bị cáo M có 01 tiền sự về sử dụng trái phép chất ma túy và 01 tiền án nhưng các bị cáo không tỏ ra ăn năn hối cải mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, cho thấy các bị cáo thể hiện sự xem thường pháp luật, các hình thức xử lý trên chưa đủ sức răn đe, giáo dục các bị cáo, nên khi xem xét hình phạt cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi các bị cáo đã gây ra và cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo thành người có ích cho xã hội, đồng thời có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Xét vai trò: Bị cáo C, M cùng thực hiện nên phải chịu chung mức hình phạt, do bị cáo M có 01 tiền sự và 01 tiền án, nên cần xử bị cáo M mức án cao hơn bị cáo C.

Về xử lý vật chứng: 01 (một) bì thư được niêm phong có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Thị Tuyết Mai, Trợ lý giám định Tạ Minh Phong và dấu tròn màu đỏ của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, bên trong có 01 (một) bịch nylon chứa tinh thể rắn màu trắng (ký hiệu M1) là Methaphetamine có khối lượng 0,1226 gam; 01 (một) cái nỏ thủy tinh; 01 (một) đoạn ống hút nhựa; 01 (một) chai nhựa là vật chứng trong vụ án không có giá trị sử dụng nên Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, tịch thu tiêu hủy.

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Starlight, số Imei có 6 số cuối là: 158167 của bị cáo C dùng vào việc phạm tội, nên Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, tịch thu nộp vào Ngân sách Nhà nước.

Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Xuân C, Nguyễn Thành M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm h Khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành M 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 29-6-2022.

2. Căn cứ điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân C 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 29-6-2022.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì thư được niêm phong có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Thị Tuyết Mai, Trợ lý giám định Tạ Minh Phong và dấu tròn màu đỏ của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, bên trong có 01 (một) bịch nylon chứa tinh thể rắn màu trắng (ký hiệu M1) là Methaphetamine có khối lượng 0,1226 gam; 01 (một) cái nỏ thủy tinh; 01 (một) đoạn ống hút nhựa; 01 (một) chai nhựa.

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Starlight, số Imei có 6 số cuối là: 158167.

(Vật chứng đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30-10-2022).

4. Về án phí: Căn cứ Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Các bị cáo Nguyễn Xuân C, Nguyễn Thành M mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

“Trường hợp bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

5. Quyền kháng cáo: Báo cho các bị cáo Nguyễn Xuân C, Nguyễn Thành M biết được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ