vanban.org

Bản án 115/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định Tuyên án 19/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Việt H, Nguyễn Tr, Lê Thành L, Nguyễn Long H, Nguyễn Đình Th phạm tội “Đánh bạc”

Về hình phạt: 1 Xử phạt bị cáo Nguyễn Việt H 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 19/9/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Việt H cùng đồng phạm - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Việt H, Nguyễn Tr, Lê Thành L, Nguyễn Long H, Nguyễn Đình Th phạm tội “Đánh bạc”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ HOÀI NHƠN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 115/2022/HS-ST
Ngày 19 - 9 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀI NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Văn Thành.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Hữu Tố.

Ông Phan Á.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thúy Diễm - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn tham gia phiên tòa: Ông Hồ Nhật Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 9 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 101/2022/TLST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 106/2022/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2022, đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Việt H, sinh ngày 01 tháng 8 năm 1988 tại tỉnh B; nơi cư trú: Khu phố Hòa Tr 2, phường Hoài X, thị xã H, tỉnh B; nghề nghiệp: Nhân viên giao hàng; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh, giới tính: Nam; tôn giáo: không, quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân V, sinh năm 1953 và bà Võ Thị T (chết); có vợ: Nguyễn Ái H, sinh năm 1992 và có 01 con sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/5/2022 đến ngày 28/5/2022, bị cáo đang tại ngoại, có mặt.

2. Nguyễn Tr, sinh ngày 12 tháng 02 năm 1980 tại tỉnh B; nơi cư trú: Khu phố 1, phường Bồng S, thị xã H, tỉnh B; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh, giới tính: Nam; tôn giáo: không, quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn G (chết) và bà Ngô Thị Ng, sinh năm 1943; có vợ: Phạm Thị Thảo S, sinh năm 1973 và có 02 con, lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/5/2022 đến ngày 28/5/2022; bị cáo đang được tại ngoại, có mặt.

3. Lê Thành L, sinh 09 tháng 02 năm 1980 tại tỉnh B; nơi cư trú: Khu phố Thuận Th 1, phường Hoài X, thị xã H, tỉnh B; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; dân tộc: Kinh, giới tính: Nam; tôn giáo: không, quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Thành S, sinh năm 1946 và bà Nguyễn Thị Ch, sinh năm 1954; có vợ: Trịnh Thị Ph, sinh năm 1987 và có 03 con, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 09/5/2018, bị Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày ngày 28/4/2020 chấp hành xong hình phạt (án tích đã được xóa); bị tạm giữ từ ngày 19/5/2022 đến ngày 28/5/2022, bị cáo bị cáo đang tại ngoại, có mặt.

4. Nguyễn Long H, sinh ngày 18 tháng 9 năm 1988 tại tỉnh B; nơi cư trú: Khu phố Hòa Tr 1, phường Hoài X, thị xã H, tỉnh B; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh, giới tính: Nam; tôn giáo: không, quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Tr, sinh năm 1961 và bà Trần Thị Thu H, sinh năm 1963; có vợ: Lưu Thị Ánh Ng, sinh năm 1993 và chưa có con; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 05/11/2021 bị Ủy ban nhân dân phường Hoài Hương xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi “Đánh bạc”, bị tạm giữ từ ngày 19/5/2022 đến ngày 28/5/2022, bị cáo bị cáo đang được tại ngoại, có mặt.

5. Nguyễn Đình Th, sinh ngày 08 tháng 3 năm 1990 tại tỉnh B; nơi cư trú: Khu phố Đệ Đ 3, phường Hoài T, thị xã H, tỉnh B; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh, giới tính: Nam; tôn giáo: không, quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình Th (chết) và bà Nguyễn Thị Thanh Đ, sinh năm 1968; có vợ: Phùng Thị Th, sinh năm 1991 và có 01 con sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo đang được tại ngoại, có mặt.

* Người làm chứng: Anh Nguyễn Hồng H, sinh năm 1993; địa chỉ: Khu phố Thuận Th 2, phường Hoài X, thị xã H, tỉnh B, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 30 ngày 19/5/2022, Nguyễn Tr, Nguyễn Việt H, Nguyễn Long H, Nguyễn Đình Th đến quán cà phê của ông Nguyễn Chí L ở khu phố Hòa Tr 1, phường Hoài X, thị xã H, tỉnh B để uống cà phê, sau đó, đánh bạc dưới hình thức bầu cua ăn thua bằng tiền. H và Tr thỏa thuận, Tr giúp H rung bầu cua, H trả tiền công cho Tr. Khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, Lê Thành L đến và tham gia chơi bầu cua. Số tiền sử dụng đánh bạc của các đối tượng cụ thể như sau: Nguyễn Việt H sử dụng 6.200.000 đồng để cầm cái; Lê Thành L sử dụng 2.400.000 đồng đánh bạc; Nguyễn Long H sử dụng 300.000 đồng đánh bạc; Nguyễn Đình Th sử dụng 300.000 đồng đánh bạc.

Khoảng 10 giờ 35 phút ngày 19/5/2022, Công an thị xã Hoài Nhơn phát hiện, bắt quả tang, thu giữ số tiền trên chiếu bạc là 2.200.000 đồng cùng số tiền đang đánh bạc được cất trong người của Nguyễn Việt H là 6.700.000 đồng, Nguyễn Long H là 300.000 đồng; tổng cộng là 9.200.000 đồng. Tại thời điểm bắt quả tang, H thắng 500.000 đồng, cất vào túi quần; L thua 200.000 đồng, bỏ 2.200.000 đồng dưới sòng bạc; H hòa, cầm 300.000 đồng trên tay, Th thua 300.000 đồng.

Tại cáo trạng số: 66/CT-VKS ngày 15 tháng 8 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định truy tố các bị cáo Nguyễn Việt H, Nguyễn Tr, Lê Thành L, Nguyễn Long H, Nguyễn Đình Th về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định như cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 321, các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Việt H từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, xử phạt bị cáo Nguyễn Tr từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”; căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Thành L từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”; căn cứ khoản 1 Điều 321, các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 36 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Long H từ 12 đến 15 tháng cải tạo không giam giữ, xử phạt bị cáo Nguyễn Đình Th từ 12 đến 15 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo rất hối hận về hành vi của các bị cáo, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Hoài Nhơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Việt H, Nguyễn Tr, Lê Thành L, Nguyễn Long H, Nguyễn Đình Th thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như sau: Vào khoảng 08 giờ 30 phút, ngày 19/5/2022, tại quán cà phê của ông Nguyễn Chí L thuộc khu phố Hòa Tr 1, phường Hoài X, thị xã H, bị cáo Nguyễn Việt H, Nguyễn Tr, Lê Thành L, Nguyễn Long H và Nguyễn Đình Th cùng nhau đánh bạc trái phép dưới hình thức chơi bầu cua ăn thua bằng tiền với tổng số tiền là 9.200.000 đồng. Cụ thể: Bị cáo Nguyễn Việt H và bị cáo Nguyễn Tr sử dụng 6.200.000 đồng để cầm cái, bị cáo Lê Thành L sử dụng 2.400.000 đồng, các bị cáo Nguyễn Long H và Nguyễn Đình Th mỗi bị cáo sử dụng 300.000 đồng tham gia đánh bầu cua. Tại thời điểm bắt quả tang, số tiền thu giữ trên chiếu bạc là 2.200.000 đồng, thu giữ trên người các con bạc tổng số tiền 7.000.000 đồng.

Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn, với lời khai của các bị cáo tại có tại hồ sơ, phù hợp với lời khai của người làm chứng và với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có đủ cơ sở để kết luận, hành vi của các bị cáo Nguyễn Việt H, Nguyễn Tr, Lê Thành L, Nguyễn Long H, Nguyễn Đình Th đã phạm vào tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Ông Nguyễn Chí L sử dụng nơi ở của mình để các bị cáo đánh bạc nhưng ông L không rủ rê và không hưởng lợi nhuận từ việc đánh bạc nên không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ông Llà đúng theo quy định của pháp luật.

Hành vi đánh bầu cung ăn thua bằng tiền của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự, an toàn công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trị an tại địa phương và vi phạm quy định pháp luật hình sự. Cần phải xử lý các bị cáo theo pháp luật hình sự để răn đe, giáo dục các bị cáo thành người có ích cho xã hội và đảm bảo phòng ngừa tội phạm chung.

Đây là vụ án có nhiều bị cáo tham gia, tuy nhiên, không có sự phân công vai trò giữa các bị cáo nên đây là vụ án đồng phạm giản đơn, vai trò của các bị cáo là người thực hành. Tuy nhiên, cần phân tích vai trò và số tiền các bị cáo sử dụng và mục đích đánh bạc của từng bị cáo để lượng hình phù hợp.

Đối với bị cáo Nguyễn Việt H và bị cáo Nguyễn Tr, hai bị cáo là người cầm cái, trực tiếp ăn thua bằng tiền với các con bạc, nên các bị cáo Hùng và Trai phải chịu hình phạt đối với tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc là 9.200.000 đồng.

Đối với các bị cáo Lê Thành L, Nguyễn Long H và Nguyễn Đình Th, các bị cáo phải chịu hình phạt đối với số tiền từng bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo:

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo Nguyễn Việt H, Nguyễn Tr, Nguyễn Long H và Nguyễn Đình Th phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; gia đình bị cáo L có công với cách mạng; do đó, các bị cáo H, Tr, H và Th được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Lê Thành L được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về nhân thân của các bị cáo: Bị cáo Nguyễn Long H chưa được xóa tiền sự, bị cáo Lê Thành L đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” và đã được xóa án tích.

Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn về tội danh và mức hình phạt phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Từ những phần tích nêu trên, xét thấy các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, không có tình tiết tăng nặng và phạm tội ít nghiêm trọng, vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống cộng đồng, mà chỉ cần giao các bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục cũng đủ tác dụng răn đe.

Về xử lý vật chứng:

Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 9.200.000 (chín triệu hai trăm nghìn) đồng sử dụng vào việc phạm tội hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hoài Nhơn (theo phiếu ủy nhiệm chi số 21 ngày 30/8/2022).

Tịch thu tiêu hủy dụng cụ sử dụng vào việc đánh bạc hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hoài Nhơn (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/8/2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Hoài Nhơn và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hoài Nhơn) gồm: 01 (một) bàn bầu cua hình chữ nhật kích thước (93x64)cm; 01 (một) thau nhôm đường kính 18cm; 01 (một) đĩa nhôm đường kính 21,5cm; 03 (ba) hột bầu cua kích thước (02 x 02 x 02)cm.

Án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo Nguyễn Việt H, Nguyễn Tr, Lê Thành L, Nguyễn Long H, Nguyễn Đình Th phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Việt H, Nguyễn Tr;

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Thành L;

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 36 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Long H, Nguyễn Đình Th;

- Căn cứ khoản 3 Điều 321, khoản 2 Điều 35 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Việt H, Nguyễn Tr và Lê Thành L;

- Căn cứ Điều 48 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14;

Tuyên xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Việt H, Nguyễn Tr, Lê Thành L, Nguyễn Long H, Nguyễn Đình Th phạm tội “Đánh bạc”

2. Về hình phạt:

2.1 Xử phạt bị cáo Nguyễn Việt H 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 19/9/2022.

Giao bị cáo Nguyễn Việt H cho Ủy ban nhân dân phường Hoài X, thị xã H, tỉnh B giám sát, giáo dục trong thời gian bị cáo thử thách án treo. Trường hợp người bị kết án thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2.2 Xử phạt bị cáo Nguyễn Tr 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 19/9/2022.

Giao bị cáo Nguyễn Tr cho Ủy ban nhân dân phường Bồng S, thị xã H, tỉnh B giám sát, giáo dục trong thời gian bị cáo thử thách án treo. Trường hợp người bị kết án thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2.3 Xử phạt bị cáo Lê Thành L 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 19/9/2022.

Giao bị cáo Lê Thành L cho Ủy ban nhân dân phường Hoài X, thị xã H, tỉnh B giám sát, giáo dục trong thời gian bị cáo thử thách án treo. Trường hợp người bị kết án thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2.4 Xử phạt bị cáo Nguyễn Long H 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 19/5/2022 đến ngày 28/5/2022 là 10 ngày x 3 = 30 ngày cải tạo không giam giữ, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt còn lại là 11 (mười một) tháng cải tạo không giam giữ, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày Ủy ban nhân dân phường Hoài X, thị xã H, tỉnh B nhận được Quyết định thi hành án và bản sao Bản án.

Giao bị cáo Nguyễn Long H cho Ủy ban nhân dân phường Hoài X, thị xã H, tỉnh B giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Trường hợp người bị kết án thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật thi hành án hình sự.

Bị cáo không có thu nhập ổn định nên được miễn khấu trừ thu nhập.

2.5 Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình Th 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 19/5/2022 đến ngày 28/5/2022 là 10 ngày x 3 = 30 ngày cải tạo không giam giữ, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt còn lại là 11 (mười một) tháng cải tạo không giam giữ, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày Ủy ban nhân dân phường Hoài T, thị xã H, tỉnh B nhận được Quyết định thi hành án và bản sao Bản án.

Giao bị cáo Nguyễn Đình Th cho Ủy ban nhân dân phường Hoài T, thị xã H, tỉnh B giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Trường hợp người bị kết án thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật thi hành án hình sự.

Bị cáo không có thu nhập ổn định nên được miễn khấu trừ thu nhập.

3. Về hình phạt bổ sung:

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Việt H 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Tr 10.000.000 (mười triệu) đồng.

- Xử phạt bị cáo Lê Thành L 10.000.000 (mười triệu) đồng.

Các bị cáo nộp số tiền phạt nêu trên phải được thực hiện một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

4. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 9.200.000 (chín triệu hai trăm nghìn) đồng sử dụng vào việc phạm tội hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hoài Nhơn (theo phiếu ủy nhiệm chi số 21 ngày 30/8/2022).

- Tịch thu tiêu hủy dụng cụ sử dụng vào việc đánh bạc hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hoài Nhơn (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/8/2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Hoài Nhơn và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hoài Nhơn) gồm: 01 (một) bàn bầu cua hình chữ nhật kích thước (93x64)cm; 01 (một) thau nhôm đường kính 18cm; 01 (một) đĩa nhôm đường kính 21,5cm; 03 (ba) hột bầu cua kích thước (02 x 02 x 02)cm..

5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo Nguyễn Việt H, Nguyễn Tr, Lê Thành L, Nguyễn Long H, Nguyễn Đình Th mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí để sung công quỹ Nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ