- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn, nuôi con giữa Chị Nguyễn Thị L - Anh Nguyễn Thanh T"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Thanh T.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 24 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH VĨNH LONG Bản án số: 115/2022/HNGĐ-ST Ngày: 28-9-2022 V/v: Ly hôn, nuôi con. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Trƣơng Tấn Đồng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễnn Văn Phẩm
2. Ông Huỳnh Văn Thanh
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Mai Phụng, là Thư ký Toà án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít: Không tham gia phiên tòa.
Ngày 28 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 237/2022/TLST- HNGĐ ngày 07 tháng 7 năm 2022 về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 126/2022/QĐXXST – HNGĐ ngày 22 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn: Chị Nguyễnn Thị L, sinh năm 1987; địa chỉ cư trú ấp Đồng Bé, xã Tân Long, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh T, sinh năm 1988; địa chỉ cư trú ấp V, xã H, huyện M, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 30 tháng 6 năm 2022 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị L trình bày: Vào năm 2008, chị và Nguyễn Thanh T kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện M, tỉnh Vĩnh Long ngày 29 tháng 12 năm 2008. Chị L cho rằng sau khi kết hôn thì vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp nhau, dẫn đến thường xuyên gây cãi. Từ đó, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, không khắc phục được nên hai người đã sống ly thân từ tháng 3 năm 2022 đến nay. Chị L xác định hiện nay tình cảm vợ chồng không còn nữa nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với Nguyễn Thanh T.
Về nuôi con chung chị L xác định chị và Nguyễn Thanh T có 02 (hai) người con chung là cháu Nguyễn Thanh Q, sinh ngày 09/8/2008 và cháu Nguyễn Thanh X, sinh ngày 26/9/2016. Hiện nay cháu Nguyễn Thanh Q đang sống với Nguyễn Thanh T và cháu Nguyễn Thanh X đang sống với chị L. Khi ly hôn chị L yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thanh X và chị L không yêu cầu Nguyễn Thanh T cấp dưỡng nuôi con. Chị L đồng ý giao cháu Nguyễn Thanh Qcho Nguyễn Thanh T tiếp tục nuôi dưỡng và chị không cấp dưỡng nuôi con.
Về chia tài sản chung và nợ chung tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình chị L đã cung cấp cho Tòa án Trích lục kết hôn số: 194/TL-KH-BS ngày 30 tháng 6 năm 2022 (bản sao) và 01 (một) giấy khai sinh mang tên Nguyễn Thanh Q (bản sao) và 01 (một) Trích lục khai sinh mang tên Nguyễn Thanh X (bản sao).
Tại bản khai ý kiến ngày 30/6/2022 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cháu Nguyễn Thanh Qtrình bày: Trường hợp cha mẹ cháu phải ly hôn thì cháu yêu cầu được sống với cha và không yêu cầu mẹ cấp dưỡng.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thông báo cho bị đơn Nguyễn Thanh T biết việc thụ lý vụ án cũng như các yêu cầu của chị L. Nhưng Nguyễn Thanh T không có văn bản trả lời, không có yêu cầu phản tố và vắng mặt tại các phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải các ngày 28 tháng 7 năm 2022; ngày 18 tháng 8 năm 2022; phiên tòa ngày 09 tháng 9 năm 2022 và phiên tòa ngày hôm nay. Mặc dù đã được tống đạt triệu tập hợp lệ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Các đương sự tranh chấp ly hôn, về nuôi con là tranh chấp hôn nhân và gia đình; bị đơn Nguyễn Thanh T có nơi cư trú tại xã H, huyện M, tỉnh Vĩnh Long. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Mang Thít thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Quá trình tiến hành tố tụng giải quyết vụ án, mặc dù đã được tống đạt triệu tập hợp lệ nhưng bị đơn Nguyễn Thanh T đều vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn Nguyễn Thanh T là đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về hôn nhân: Vào năm 2008, chị L và Nguyễn Thanh T kết hôn. Có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện M, tỉnh Vĩnh Long ngày 29 tháng 12 năm 2008. Vì vậy hôn nhân của chị L và Nguyễn Thanh T là hợp pháp.
Xét; việc chị L cho rằng sau khi kết hôn thì vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp nhau, dẫn đến thường xuyên gây cãi. Từ đó, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trâm trọng, không khắc phục được. Mặc dù đã được gia đình hòa giải nhiều lần để cho hai người đoàn tụ chung sống với nhau nhưng không có kết quả. Hơn nữa, hiện nay chị L xác định chị không còn tình cảm với Nguyễn Thanh T và hai người đã sống ly thân từ tháng 3 năm 2022 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị L và Nguyễn Thanh T đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, xét việc chị L yêu cầu được ly hôn với Nguyễn Thanh T là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại các Điều 9, 51 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên chấp nhận.
Về nuôi con chung: Xét; Từ khi chị L và Nguyễn Thanh T ly thân đến nay thì cháu Nguyễn Thanh Qdo Nguyễn Thanh Tnuôi dưỡng và cháu Nguyễn Thanh X do chị L nuôi dưỡng, các cháu vẫn sống, phát triển và trưởng thành bình thường. Đồng thời, hiện nay cháu Nguyễn Thanh Qcũng có nguyện vọng muốn được sống với cha. Vì vậy, xét việc chị L yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thanh X và chị L không yêu cầu Nguyễn Thanh T cấp dưỡng nuôi con. Chị L đồng ý giao cháu Nguyễn Thanh Q cho Nguyễn Thanh Ttiếp tục nuôi dưỡng và chị không cấp dưỡng nuôi con là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại các Điều 81, 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên chấp nhận.
Về chia tài sản và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xét.
Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 9; 51; 56; 81; 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Thanh T.
2. Về nuôi con chung: Giao cháu Nguyễn Thanh Q, sinh ngày 09 tháng 8 năm 2008 cho anh Nguyễn Thanh T tiếp tục nuôi dưỡng, chị Nguyễnn Thị L không phải cấp dưỡng nuôi con. Giao cháu Nguyễn Thanh X, sinh ngày 26 tháng 9 năm 2016 cho chị Nguyễn Thị L tiếp tục nuôi dưỡng, anh Nguyễn Thanh T không phải cấp dưỡng nuôi con.
Chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Thanh T có quyền tới lui trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai có quyền cản trở.
3. Về chia tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không giải quyết.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0007254 ngày 07 tháng 7 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mang Thít, như vậy chị Nguyễnn Thị L không phải nộp thêm tiền án phí.
Trường hợp bản án, quyết định, được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hh án theo qui định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được qui định theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Vĩnh Long; -VKSND huyện Mang Thít; - Chi cụcTHADS huyện Mang Thít; - UBND xã H; - Đương sự; -Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Trƣơng Tấn Đồng |