- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Đức Tr- Tàng trữ ma tuy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu, tiêu hủy 01 (một) phong bì thư bưu điện được niêm phong bên trong có vỏ gói niêm phong cũ, mảnh giấy trắng và 0,140 g (không phẩy một trăm bốn mươi gam) ma túy (heroine) thu giữ của Lê …
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 115/2021/HS-ST Ngày: 29-6-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Vũ Thị Thịnh.
2. Bà Đỗ Thị Hằng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Lý - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 6 năm 2021, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 98/2021/TLST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 119/2021/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 6 năm 2021, đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Đức Tr (tên gọi khác: không); sinh năm: 1991 tại tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm 16, xã QuV, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Đức Í và bà: Lê Thị Tr; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ, tạm giam: từ ngày 07/4/2021 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: anh Vũ Đình N, sinh năm 1989. Nơi cư trú: xóm 16, xã QuV, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt
Người chứng kiến: ông Lê Thành Ch, sinh năm 1962. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 07/4/2021, Lê Đức Tr gặp một người tên Đ hỏi mua 200.000 đồng heroine, Đ trả lời sáng nay không có, chiều đi làm về đưa cho. Sau đó, Tr mượn xe máy nhãn hiệu Sanda VMep biển kiểm soát 37Y1-4379 và điện thoại di động Oppo màu đen gắn thẻ sim số thuê bao 0388756803 của anh họ Vũ Đình N để sử dụng. Đến khoảng 17h30 phút, cùng ngày, Tr điện thoại hỏi Đ đã có ma túy chưa, Đ trả lời có hàng rồi vào trước cổng bệnh viện Đa khoa Quỳnh Lưu mà lấy. Tr đi đến bệnh viện để gặp Đ. Tại đây, Đ đưa cho Tr 01 (một) gói giấy màu trắng, Tr đưa cho Đ số tiền 200.000 đồng. Khi Tr quay ra trước cổng bệnh viện đa khoa huyện Quỳnh Lưu thì bị tổ công tác Công an huyện Quỳnh Lưu phối hợp với Công an xã Quỳnh Hưng bắt quả tang, thu giữ trong tay trái của Tr 01 (một) gói giấy màu trắng bên trong chứa chất bột nén màu trắng, 01 (một) xe máy biển kiểm soát 37Y1-4379 và 01 (một) điện thoại di động Oppo màu đen.
Cùng ngày, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳnh Lưu tiến hành mở niêm phong xác định khối lượng 0,285 gam và Quyết định trưng cầu giám định đối với 0,145 gam chất bột màu trắng thu giữ của Lê Đức Tr. Tại Kết luận giám định số 548/KL-PC09(Đ2-MT), ngày 12/4/2021, phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Lê Đức Tr gửi tới giám định là ma túy (Heroine), có khối lượng 0,285 g (không phẩy hai trăm tám mươi lăm gam).
Bản cáo trạng số 111/CT-VKS-QL ngày 01/6/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu truy tố bị cáo Lê Đức Tr về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Đức Tr từ 13-15 tháng tù.
Hình phạt bổ sung: không áp dụng.
Vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu, tiêu hủy 01 (một) phong bì thư bưu điện được niêm phong bên trong có vỏ gói niêm phong cũ, mảnh giấy trắng và 0,140 g (không phẩy một trăm bốn mươi gam) ma túy (heroine) còn lại sau khi lấy mẫu giám định.
Án phí: buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Đức Tr khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên, không tranh luận gì về tội danh. Lời nói sau cùng: xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo có cơ hội cải tạo sớm trở với xã hội làm người công dân có ích.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Quỳnh Lưu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Đức Tr khai nhận: vào lúc 17h30 phút ngày 07/4/2021 bị cáo mua của Đức 0,285 g (không phẩy hai trăm tám mươi lăm gam) ma túy Heroine với số tiền 200.000 đồng và cầm ở bàn tay trái để về sử dụng, thì bị tổ công tác Công an huyện Quỳnh Lưu phối hợp với Công an xã Quỳnh Hưng bắt quả tang trước cổng Bệnh viện Đa khoa huyện Quỳnh Lưu (xóm 13, xã Quỳnh Thạch, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An). Lời khai của bị cáo phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, lời khai tại Cơ quan điều tra và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Bị cáo đã có hành vi cất dấu 0,285 g (không phẩy hai trăm tám mươi lăm gam) ma túy Heroine để sử dụng, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền, thống nhất quản lý các chất ma túy của Nhà nước, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực trách nhiệm hình sự. Phạm tội với lỗi cố ý. Như vậy, hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự như cáo trạng truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Vụ án có tính chất nghiêm trọng. Ma túy là một tệ nạn xã hội nguy hiểm, đe dọa nghiêm trọng đến sức khỏe và sự phát triển lành mạnh của nòi giống, làm suy kiệt kinh tế của mỗi gia đình, ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Nên, cần áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo. Cách ly ra ngoài xã hội một thời gian, mới có đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo bị cáo, đồng thời răn đe và phòng ngừa chung. Tuy nhiên cũng cần xem xét, bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng, có tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Xử phạt bị cáo với mức hình phạt như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.
Hình phạt bổ phải sung: khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng…”. Xét bị cáo thuộc hộ cận nghèo nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
Xử lý vật chứng: 01 (một) phong bì thư bưu điện được niêm phong bên trong có 0,140 g (không phẩy một trăm bốn mươi gam) ma túy (heroine) thu giữ của Lê Đức Trung còn lại sau khi lấy mẫu giám định, vỏ gói niêm phong cũ, mảnh giấy trắng, là chất cấm và vật không có giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.
Một số vấn đề khác: kiến nghị cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ hành vi của người bán ma túy cho Trung để xử lý theo quy định của pháp luật. Vũ Đình N cho trung mượn xe máy và điện thoại di động nhưng không biết trung sử dụng vào việc phạm tội nên cơ quan điều tra đã trả lại xe máy biển kiểm soát 37X1-4379 và 01 (một) điện thoại di động Oppo màu đen cho Nam là đúng quy định của pháp luật.
Về án phí hình sự: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lê Đức Tr 15 (mười lăm) tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 07/4/2021).
2. Xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu, tiêu hủy 01 (một) phong bì thư bưu điện được niêm phong bên trong có vỏ gói niêm phong cũ, mảnh giấy trắng và 0,140 g (không phẩy một trăm bốn mươi gam) ma túy (heroine) thu giữ của Lê Đức Tr. (Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/6/2021 giữa Công an huyện Quỳnh Lưu và Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu).
3. Án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 buộc bị cáo Lê Đức Tr phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND tỉnh Nghệ An; - Trại giam Công an tỉnh Nghệ An; - VKSND huyện Quỳnh Lưu; - CA huyện Quỳnh Lưu; - CCTHA Dân sự huyện Quỳnh Lưu; - THA hình sự; - Sở Tư pháp; - UBND xã Quỳnh Văn (để biết); - Bị cáo; - Lưu hồ sơ + Lưu trữ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hải Yến |