vanban.org

Bản án 115/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Đông Hà, tỉnh Quảng Trị Tuyên án 26/10/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Thanh T (tên gọi khác: Tô) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Lê Thanh T (Tô) 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 02/6/2021. Về vật chứng thu giữ: Áp dụng các điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thanh T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Thanh T (tên gọi khác: Tô) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ
TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 115/2021/HS-ST
Ngày 26 - 10 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Huyến

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Trường;

Bà Nguyễn Thị Mỹ Vinh.

Thư ký phiên tòa: Ông Phan Khắc Quân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Hoàng Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 10 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 101/2021/TLST-HS ngày 07/9/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 109/2021/QĐXXST-HS ngày 14/9/2021 và Thông báo mở lại phiên tòa số: 567/TB-TA ngày 07/10/2021, đối với bị cáo:

Lê Thanh T, tên gọi khác: Tô; sinh ngày 22/12/1986, tại: tỉnh Quảng Trị; nơi cư trú: Khu phố B, Phường M, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật Giáo; trình độ học vấn: 09/12; nghề nghiệp: Lái xe; con ông: Lê Văn N (đã chết) và bà: Võ Thị H, sinh năm 1958; gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai; vợ: Lê Thị Tuyết M (đã ly hôn), có 01 con chung sinh năm 2017; bị cáo sống chung như vợ chồng với chị Nguyễn Thị Kiều Tg và có 02 con chung: cháu lớn sinh năm 2020, cháu nhỏ sinh năm 2021.

Tiền án, tiền sự: không

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh Quảng Trị từ ngày 02/6/2021 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ 15 phút ngày 02/6/2021, Lê Thanh T đi bộ đến khu vực trước quán cafe Window (thuộc khu phố 2, phường 1, thành phố Đông Hà) gặp nam thanh niên tên Rùa (không rõ nhân thân, lai lịch) mua được 02 viên ma túy hồng phiến với giá 100.000 đồng (số ma túy được đặt trong 01 đoạn ống nhựa màu trắng, có kẻ sọc đỏ). Sau khi có ma túy, T cất giấu vào dép bên trái đang mang trên chân rồi đi tìm nơi để sử dụng. Khi đi bộ đến khu vực cầu Lòn đường sắt (thuộc khu phố 3, phường 1, thành phố Đông Hà) thì bị lực lượng Công an thành phố Đông Hà kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang.

Theo Kết luận giám định số 606/KLGĐ ngày 04/6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị, kết luận: 02 viên nén hình tròn, màu hồng, trên bề mặt mỗi viên đều có chữ WY có khối lượng 0,2101 gam, là ma túy loại Methamphetamine.

Cáo trạng số: 104/CT-VKSĐH ngày 06/9/2021 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà đã truy tố bị cáo Lê Thanh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà giữ nguyên nội dung bản Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt Lê Thanh T từ 12 (mười hai) đến 14 (mười bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 02/6/2021.

Về xử lý vật chứng thu giữ: Đề nghị tịch thu, tiêu hủy 01 bao niêm phong đựng toàn bộ mẫu vật là số ma túy và bao gói hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì có ký hiệu PS3A 103270 có đóng dấu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị. Trả lại cho bị cáo Lê Thanh T: 01 điện thoại di động hiệu Itel, màu đen, bàn phím số, phía sau không có nắp, số thuê bao 0942321525, số IMEI1: 354269088103604, số IMEI2: 354269088103612.

Bị cáo trình bày lời nói sau cùng: Bị cáo đã thấy sai phạm của mình, mong Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng hình phạt nhẹ để sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp các các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố và xét xử:

Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an thành phố Đông Hà, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về thẩm quyền, trình tự thủ tục tố tụng. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng pháp luật.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở khẳng định: Ngày 02/6/2021, tại khu vực trước quán cà phê Window, thuộc khu phố 2, Phường 1, thành phố Đông Hà, Lê Thanh T đã mua 02 viên ma túy hồng phiến của nam thanh niên tên Rùa (không rõ lai lịch, địa chỉ) giá 100.000 đồng, với mục đích để sử dụng. Sau khi mua được ma túy, T cất giấu vào dép bên trái đang mang trên chân rồi đi tìm nơi để sử dụng. Khi đi bộ đến khu vực cầu Lòn đường sắt (thuộc khu phố 3, phường 1, thành phố Đông Hà) thì bị lực lượng Công an thành phố Đông Hà kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang.

Theo Kết luận giám định số 606/KLGĐ ngày 04/6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị, kết luận: 02 viên nén hình tròn, màu hồng, trên bề mặt mỗi viên đều có chữ WY có khối lượng 0,2101 gam, là ma túy loại Methamphetamine.

Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, điều luật có khung hình phạt từ 01 năm đến 05 năm tù.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy, là nguyên nhân gây nên các tệ nạn xã hội và các tội phạm khác, gây mất trật tự trị an địa phương và tâm lý hoang mang lo sợ trong nhân dân. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo với mức hình phạt nghiêm để răn đe, giáo dục, đồng thời góp phần vào công tác phòng, chống và đẩy lùi tội phạm, đặc biệt là tội phạm ma túy.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.

- Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo nhằm thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước đối với người phạm tội, nhưng phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe và giáo dục.

Tính đến ngày xét xử sơ thẩm thời hạn tạm giam của bị cáo còn dưới 45 ngày nên cần phải ban hành quyết định tạm giam mới.

Về xử lý vật chứng thu giữ:

- Số ma túy và bao gói hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì có ký hiệu PS3A 103270 có đóng dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị, là chất cấm lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Itel, màu đen, bàn phím số, phía sau không có nắp, số thuê bao 0942321525, số IMEI1: 354269088103604, số IMEI2: 354269088103612, là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo, nhưng cần tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án.

Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã áp dụng các biện pháp nghiệp vụ nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch của nam thanh niên tên Rùa đã bán ma túy cho bị cáo nên không có cơ sở xử lý.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lê Thanh T (tên gọi khác: Tô) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Lê Thanh T (Tô) 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 02/6/2021.

3. Về vật chứng thu giữ: Áp dụng các điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên xử:

- Tịch thu, tiêu hủy: 01 bao niêm phong đựng toàn bộ mẫu vật là số ma túy và bao gói hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì có ký hiệu PS3A 103270 có đóng dấu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị.

- Trả lại cho bị cáo Lê Thanh T: 01 điện thoại di động hiệu Itel, màu đen, bàn phím số, phía sau không có nắp, số thuê bao 0942321525, số IMEI1: 354269088103604, số IMEI2: 354269088103612, nhưng cần tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án.

Vật chứng hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 07/9/2021, giữa cơ quan Điều tra Công an thành phố Đông Hà và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà.

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc bị cáo Lê Thanh T phải chịu số tiền 200.000 đồng án phí hình sự sở thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ