- Tranh chấp gì? án hình sự — "hình sự - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 115/2021/HS-ST Ngày 28-10-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Đức Hoàng
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Mai
Bà Phạm Thị Bích Ngọc.
- Thư ký phiên toà: Bà Lưu Hoàng Hải Bình - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành ph ố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hoài - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 10 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 110/2021/HSST ngày 05 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 271/2021/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn N, sinh ngày 10 tháng 7 năm 1988 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn 7, xã H, huyện T, thành phố H; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N và bà Bùi Thị M; có vợ là Nguyễn Thị H và 03 con; tiền án, tiền sự, nhân thân: Bản án số 10 ngày 06/03/2017, Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương xử 15 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (đã được xóa án tích); bị tạm giữ từ ngày 25/6/2021, chuyển tạm giam ngày 28/6/2021; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 25/6/2021, Nguyễn Văn N một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 16L1-1228 đi từ nhà đến khu vực ngõ 30 đường T để tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân. Tại đây, N gặp và mua của một người nam giới không quen biết 200.000 đồng ma túy. Người nam giới nhận tiền rồi đưa cho N 01 gói giấy màu trắng. N biết bên trong gói giấy là ma túy nên đã cất giấu vào trong bao thuốc nhãn hiệu Thăng Long. Sau đó N cầm bao thuốc Thăng Long ở tay trái rồi điều khiển xe đi tìm chỗ sử dụng. Khi N đi đến khu vực trước cửa nhà số 407 L, quận L, H thì bị tổ công tác Công an phường An Dương, quận Lê Chân phối hợp cùng Đoàn đặc nhiệm phòng chống tội phạm ma túy số 01 - Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển tiến hành kiểm tra và thu giữ tại lòng bàn tay trái của N 01 bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long, bên trong bao thuốc có 01 gói giấy chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy. Tổ công tác đã đưa N cùng vật chứng về trụ sở Công an phường lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang. Ngoài ra, còn thu giữ của N 01 xe máy biển kiểm soát 16L1-1228 và số tiền 38.000 đồng.
Tại Kết luận giám định số 416/KLGĐ-MT ngày 28/6/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Chất bột màu trắng trong 01 gói giấy thu giữ của Nguyễn Văn N là ma túy, có khối lượng 0,39 gam, là loại Heroine.
Tại cơ quan cảnh sát điều tra, Nguyễn Văn N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu ở trên.
Tại Bản Cáo trạng số 122/CT-VKS ngày 04/10/2021, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng truy tố bị can Nguyễn Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Qua xem xét đánh giá chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra, cùng lời khai nhận của bị cáo, lời khai của người làm chứng, tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân giữ nguyên quan điểm truy tố theo cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N từ 18 (mười tám) tháng đến 24 (hai mươi bốn) tháng tù.
Xét điều kiện, hoàn cảnh gia đình của bị cáo, bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với phong bì đựng vỏ bao gói và số ma túy còn lại sau giám định, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy.
Đối với số tiền 38.000 đồng là tài sản riêng của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo.
Đối với xe máy biển kiểm soát 16L1-1228, quá trình điều tra chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân tiếp tục xác minh, làm rõ, xử lý sau.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn N phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghỉ nghị án, bị cáo trình bày nhận thức rõ hành vi phạm tội, hậu quả của tội phạm đã thực hiện và mong muốn được sự khoan hồng của pháp luật, được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện.
- Về tội danh:
Lời khai về hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, cùng với vật chứng đã được thu giữ trong vụ án. Căn cứ vào các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Bản kết luận giám định số 416/KLGĐ-MT ngày 28/6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng và quan điểm truy tố của Viện Kiểm sát tại phiên tòa, đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
- Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhân thân có 01 tiền án đã được xóa theo quy định pháp luật, lần phạm tội này tuy không xem xét tình tiết tăng nặng tái phạm đối với bị cáo, nhưng cho thấy bị cáo là đối tượng có nhân thân xấu. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại Cơ quan điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn, hối cải đối với hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt áp dụng:
Tội phạm mà bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, hành vi phạm tội là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, vi phạm Điều 3 Luật phòng, chống ma túy. Ngoài ra bị cáo là đối tượng nghiện ma túy nên cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, buộc bị cáo phải cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định đủ để răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Xét hoàn cảnh của bị cáo không có việc làm, không có tài sản riêng, trên cơ sở quan điểm đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, nên Hội đồng xét xử miễn áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng:
Đối với số ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao bì còn lại, xét là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và vật dùng chứa chất ma túy nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với số tiền 38.000 đồng, xét là tài sản riêng của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Về các vấn đề khác:
Đối chiếc xe mô tô màu xanh nhãn hiệu Wave, biển kiểm soát 16L1-1228, qua điều tra xác minh chiếc xe này nguyên bản mang tên chủ xe là Vũ Thị Mai Thanh (hiện đã thôi quốc tịch Việt Nam và mang quốc tịch Đài Loan, đang sinh sống cùng chồng tại Đài Loan). Do đó chưa có cơ sở xác định chủ sở hữu hợp pháp, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Lê Chân tiếp tục xác minh, làm rõ, xử lý sau.
Đối với người nam giới bán ma túy cho Nguyễn Văn N, tài liệu điều tra của Cơ quan CSĐT - Công an quận Lê Chân hiện không xác định được căn cước, lai lịch, nên không có căn cứ xử lý.
- Về án phí:
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 21 (hai mươi mốt) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 25/6/2021.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong đựng lượng ma túy cùng vỏ bao bì còn lại sau giám định có số 416MT/PC09;
- Tiếp tục tạm giữ số tiền 38.000 đồng (ba mươi tám nghìn đồng) thu giữ của bị cáo để đảm bảo thi hành án đối với phần án phí.
(Theo Biên bản giao, nhận tài sản, vật chứng ngày 05 tháng 10 năm 2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân và Giấy nộp tiền vào Kho bạc Nhà nước ngày 07 tháng 10 năm 2021).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn N phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án đựơc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi thành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành dân sự đựơc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND TP.Hải Phòng; - VKSND quận Lê Chân; - PV06, PC10-Công an TP. Hải Phòng; - CQCSĐT-Công an quận Lê Chân; - Cơ quan THAHS quận Lê Chân; - Sở Tư pháp TP. Hải Phòng; - Chi cục THADS quận Lê Chân; - Trại tạm giam Công an TP. Hải Phòng; - UBND xã/phường nơi bị cáo cư trú;. - Lưu: VP, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Đức Hoàng |