vanban.org

Bản án 115/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Phan Ngọc Đ.

Cho chị Phan Ngọc Đ được ly hôn với anh Lê Anh T. Về con chung: Giao con chung là cháu Lê Trác N, sinh ngày 01/5/2013 cho chị Phan Ngọc Đ trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Phan Ngọc Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG HỒ
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 115/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 25/10/2021
V/v "Tranh chấp ly hôn, nuôi con"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Ánh Tuyết

- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Minh Toàn

2. Ông Nguyễn Văn Trước

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Tiên – Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 10 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 55/2021/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 02 năm 2021 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 98/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 9 năm 2021, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Phan Ngọc Đ, sinh năm 1992

Địa chỉ: 471/31 ấp L, xã P, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.

Bị đơn: Anh Lê Anh T, sinh năm 1991 (xin vắng)

Địa chỉ: 477A/31 ấp L, xã P, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và những lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Phan Ngọc Đ trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Qua quen biết tìm hiểu nhau chị và anh Lê Anh T đã tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới theo tập quán, có đăng ký kết hôn vào ngày 29/10/2012 tại UBND xã L, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long. Thời gian sau ngày cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau đến năm 2017 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cãi nhau, anh T có thói quen sử dụng chất cấm, bản thân chị đã nhiều lần khuyên ngăn anh T để cùng nhau cố gắng khắc phục mâu thuẫn vợ chồng nhưng vẫn không được, chị và anh T đã không còn chung sống với nhau từ năm 2019 cho đến nay, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, anh T đi đâu, làm gì chị không biết. Nay chị Đ nhận thấy tình cảm vợ chồng giữa chị và anh T không còn nữa do mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Anh T.

- Về con chung: Có 01 con chung tên Lê Trác N, sinh ngày 01/5/2013 hiện đang sống chung với chị. Khi ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung đồng thời không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Lê Anh T đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

Ngày 06/10/2021, Tòa án có nhận được “ Đơn xin vắng mặt hòa giải xét xử” đề ngày 05/10/2021 của anh Lê Anh T gửi qua đường bưu điện có nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh T đồng ý ly hôn với chị Phan Ngọc Đ.

- Về con chung: Có 01 con chung tên Lê Trác N, sinh ngày 01/5/2013. Khi ly hôn, anh T đồng ý giao cháu Lê Trác N cho chị Đ được trực tiếp nuôi dưỡng đồng thời anh T không cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra anh T xin được vắng mặt tại phiên tòa với lý do anh T hiện không có mặt tại địa phương.

Tại phiên tòa hôm nay:

- Nguyên đơn chị Phan Ngọc Đ vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

- Bị đơn anh Lê Anh T xin vắng mặt tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng:

Đối với Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.

Đối với nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Đối với bị đơn đã không thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử:

- Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Phan Ngọc Đ: Cho chị Phan Ngọc Đ ly hôn với anh Lê Anh T.

- Về con chung: Giao con chung là cháu Lê Trác N, sinh ngày 01/5/2013 cho chị Phan Ngọc Đ tiếp tục nuôi dưỡng. Anh Lê Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.

- Về án phí: Chị Phan Ngọc Đ phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Nguyên đơn chị Phan Ngọc Đ khởi kiện về việc xin ly hôn và nuôi con chung khi ly hôn với bị đơn Lê Anh T có địa chỉ tại ấp L, xã P, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long thụ lý và giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình theo thủ tục sơ thẩm được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn anh Lê Anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không vì sự kiện bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với bị đơn Lê Anh T.

Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Phan Ngọc Đ và anh Lê Anh T tiến đến hôn nhân có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn vào ngày 22/10/2012 tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long do đó quan hệ hôn nhân là hợp pháp và được pháp luật công nhận theo quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Xét quá trình chung sống của chị Đ và anh T: Theo nguyên đơn trình bày, sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn do mất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cự cãi nhau, chị Đ đã nhiều lần khuyên nhủ anh T nhung không được, từ cuối năm 2019 đến nay chị không còn sống chung với anh Lê Anh T, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, anh T đi đâu, làm gì chị không biết. Tại phiên tòa, chị Đ vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn.

Xét thấy, từ năm 2019 đến nay chị Đ và anh T không còn sống chung với nhau, không quan tâm chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau chia sẻ và thực hiện các công việc gia đình. Do đó, có căn cứ xác định chị Đ và anh T đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình dẫn đến tình trạng hôn nhân trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của chị Đ là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình. Do đó Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận cho chị Phan Ngọc Đ được ly hôn với ông Lê Anh T.

- Về con chung: Chị Đ và anh T có 01 con chung tên Lê Trác N, sinh ngày 01/5/2013 hiện do chị Đ đang trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Đ yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy, tại biên bản lấy lời khai ngày 31/3/2021 cháu Lê Trác N trình bày nếu cha và mẹ cháu ly hôn thì cháu có nguyện vọng được sống chung với mẹ cháu. Tại phiên tòa chị Đ cũng trình bày có đủ điều kiện kinh tế để nuôi con và có cha, mẹ ruột của chị phụ giúp chị chăm sóc con. Do đó để ổn định cuộc sống của cháu N cũng như dựa theo nguyện vọng của cháu, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu chị Đ, giao cháu Lê Trác N, sinh ngày 01/5/2013 cho chị Đ trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục.

Anh Lê Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở theo quy định tại khoản 3 Điều 82 Luật Hôn nhân gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Đ không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

- Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết.

- Về nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về án phí: Chị Phan Ngọc Đ là nguyên đơn nên phải chịu toàn bộ án phí giải quyết vụ án hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

- Căn cứ các Điều 9, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Phan Ngọc Đ.

Cho chị Phan Ngọc Đ được ly hôn với anh Lê Anh T.

2. Về con chung: Giao con chung là cháu Lê Trác N, sinh ngày 01/5/2013 cho chị Phan Ngọc Đ trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục.

Anh Lê Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết.

4. Về nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết.

5. Về án phí: Buộc chị Phan Ngọc Đ nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ từ 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí mà chị Đ đã nộp theo biên lai thu số 0006470 ngày 23/02/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long, nên chị Đ không phải nộp thêm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai, nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.

Cỡ chữ