vanban.org

Bản án 115/2020/HSST — Hình sự

TAND TX. Thuận An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 13/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Về trách nhiệm hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Kim Ng - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THUẬN AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 115/2020/HSST
Ngày: 13- 5- 2020.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Anh Thƣ.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Túy Phƣợng

2. Bà Trần Ngọc Phƣơng

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Trần Trung Tín – Thƣ ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hƣơng - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 5 năm 2020, Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 72/2020/HSST ngày 12 tháng 3 năm 2020 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 101/2020/QĐXXST- HS ngày 29/4/2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thị Kim Ng, sinh ngày 30/8/2000; nơi ĐKNKTT: Số 262/5, đƣờng Đ, tổ 5, khu phố 3, phƣờng T, quận 9, Thành phố H; giới tính: Nữ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1975 và bà Trịnh Thị Thắm Th, sinh năm 1975; có 01 con sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đƣợc áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cƣ trú ngày 20/8/2019 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng: Ông Phạm Hồng H, sinh năm 1975; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 05/5/2019 đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Thuận An kết hợp Công an phƣờng An Phú, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng kiểm tra hành chính quán karaoke R ở địa chỉ ô 103-105, lô DC30, đƣờng D11, khu dân cƣ Việt Sing, khu phố 4, phƣờng An Phú, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng. Kiểm tra tại phòng Vip 07 phát hiện có 12 đối tƣợng nam nữ trong phòng, trong đó Nguyễn Thị Kim Ng có biểu hiện nghi vấn. Qua kiểm tra phát hiện trong túi xách màu đỏ của Ng có chứa 01 viên nén màu xanh đậm, 01 viên nén màu xanh lá nhạt, 02 viên nén màu vàng. Ng khai nhận đó là thuốc lắc cất giấu để sử dụng. Cơ quan điều tra đã tiến hành lập biên bản và đƣa về Công an phƣờng làm việc.

Quá trình điều tra Ng khai bản thân là tiếp viên của quán và bắt đầu sử dụng ma túy từ cuối năm 2018. Ngày 02/5/2019, có một ngƣời khách đến chơi ở quán cho Ng số ma túy trên để sử dụng.

Tang vật thu giữ gồm: 01 viên nén màu xanh đậm, 01 viên nén màu xanh lá nhạt, 02 viên nén màu vàng (tất cả nghi ma túy tổng hợp).

Ngày 05/5/2019, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng ra Quyết định số 456 trƣng cầu phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng giám định 01 viên nén màu xanh đậm, 01 viên nén màu xanh lá nhạt, 02 viên nén màu vàng thu giữ của Ngân.

Theo bản kết luận giám định số 363/MT- PC09 ngày 10/5/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng kết luận: Mẫu tinh thể gửi giám định là ma túy loại MDMA, có tổng khối lƣợng là 1,2537 gam (trong đó 0,3202 gam (M1); 0,1872 gam (M2); 0,7463 gam (M3)).

Qua điều tra xác định ông Phạm Hồng H là chủ quán karaoke, nhƣng ông Hiên không biết việc Nguyễn Thị Kim Ng cất giấu ma túy trong ngƣời nên không có cơ sở xử lý đối với ông Hiên.

Theo bản cáo trạng số 89/CT-VKS-TA ngày 11/3/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Kim Ng về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa bị cáo Ngân khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và không có ý kiến gì về nội dung truy tố theo bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An.

Trong phần tranh luận Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thị Kim Ng về tội danh, điều luật nhƣ nội dung Cáo trạng, đánh giá về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Ng mức hình phạt từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Về xử lý vật chứng: đề nghị tịch thu tiêu hủy bì thƣ niêm phong ghi số vụ 363/PC09 là mẫu vật hoàn lại sau giám định.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Kim Ng không có ý kiến tranh luận về quan điểm luận tội của Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về thủ tục tố tụng: Trong giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, cơ quan điều tra Công an thành phố Thuận An, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, điều tra viên, cán bộ điều tra, kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và ngƣời tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về nội dung: Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Thị Kim Ng thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội nhƣ nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang, lời khai ngƣời làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Nhƣ vậy, Toà án có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 1 giờ 00 phút ngày 05/5/2019 đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Thuận An kết hợp Công an phƣờng An Phú, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng kiểm tra hành chính quán karaoke R ở khu phố 4, phƣờng An Phú, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, phát hiện Nguyễn Thị Kim Ng cất giấu 1,2537 gam ma túy loại MDMA trong túi xách màu đỏ.

Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đƣợc quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản nhƣ trên là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng pháp luật.

Hành vi tàng trữ MDMA của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội và xâm phạm đến chế độ quản lý các chất gây nghiện của nhà nƣớc. Bị cáo biết MDMA là chất gây nghiện độc hại do nhà nƣớc độc quyền và thống nhất quản lý, việc sử dụng chúng không những hủy hoại sức khỏe của bản thân, mà còn là điều kiện phát sinh các tệ nạn xã hội và nhiều tội phạm khác. Do đó, cần xử phạt bị cáo với mức án nghiêm khắc nhằm răn đe bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên, cũng cần xem xét đến hoàn cảnh bị cáo là mẹ đơn thân đang nuôi con nhỏ sinh năm 2018 để quyết định mức hình phạt cho phù hợp.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải về hành vi phạm tội là tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt đối với bị cáo là phù hợp và tƣơng xứng với hành vi bị cáo đã gây ra.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 bì thƣ niêm phong ghi số vụ 363/ PC09 mẫu vật ma túy hoàn lại sau giám định là tang vật vụ án cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phạm tội và bị kết án, nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Kim Ng phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Kim Ng 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 01 bì thƣ niêm phong ghi số vụ 363/MT- PC09 là mẫu vật ma túy hoàn lại sau giám định.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 10/3/2020 giữa Công an thành phố Thuận An và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An).

3. Về án phí:

Bị cáo Nguyễn Thị Kim Ng phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ