vanban.org

Bản án 115/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La Tuyên án 25/09/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự:

Tuyên bố bị cáo Quàng Văn P phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Xử phạt bị cáo Quàng Văn P 20 ( hai mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18-6-2020 ( là ngày bắt giam giữ đối với bị cáo). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Quàng Văn P, phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một s…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THUẬN CHÂU
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 115/2020/HSST.
Ngày: 25-9-2020.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Bà Lường Thị Hương;

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lò Văn Quốc;

Ông Phạm Ngọc Thiệp;

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Tiến Dũng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: Bà Đinh Thị Bích Nguyệt - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La mở phiên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 116/2020/HSST, ngày 10-9-2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 112/2020/QĐXXST-HS, ngày 14-9-2020 đối với bị cáo:

Quàng Văn P; tên gọi khác: Không; sinh năm: 1970; tại xã TC, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản S, xã TC, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; trình độ học vấn: Không biết chữ; nghề nghiệp: Trồng trọt; dân tộc: Thái; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Quàng Văn Đ (Đã chết) và bà Quàng Thị A ( đã chết); bị cáo có vợ: Lường Thị N; sinh năm 1971 và 02 con, lớn 26 tuổi, nhỏ 23 tuổi; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt giam giữ kể từ ngày 18-6-2020, có mặt tại phiên tòa.

- Người phiên dịch cho bị cáo Quàng Văn P: Anh Cà Văn D; sinh năm: 1988; địa chỉ: Bản N, xã PL, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La. ( Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 17 giờ, ngày 18-6-2020, tổ công tác Công an huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La làm nhiệm vụ tại khu vực Bản S, xã TC, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La phát hiện và bắt quả tang: Quàng Văn P, trú tại: Bản S, xã TC, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ vật chứng gồm:

- 01 gói nilon màu trắng, bên trong có chứa một ít bột cục màu trắng nghi là Heroine ( Quàng Văn P khai là Heroine), có khối lượng 0,19 gam, trích rút toàn bộ 0,19 gam ký hiệu P1 làm mẫu vật gửi giám định chất ma túy.

- Một chiếc xe mô tô, không xác định số khung, số máy, không yếm, không biển kiểm soát, xe đã qua sử dụng cũ.

Kết luận giám định số: 1036, ngày 23-6-2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La: “ Mẫu gửi giám định ký hiệu P1 là chất ma túy, loại Heroine; tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,19 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,19 gam loại Heroine”. ( Hoàn lại mẫu gửi giám định: Chất bột màu trắng thuộc mẫu gửi giám định ký hiệu P1 không sử dụng đến trong quá trình giám định có khối lượng 0,13 gam).

Tại cơ quan điều tra bị cáo Quàng Văn P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như sau:

Khoảng 12 giờ, ngày 18-6-2020, Quàng Văn P một mình điều khiển xe mô tô từ nhà ở Bản S, xã TC, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La lên xã TM, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La để tìm mua ma túy về sử dụng. Đến Bản T, xã TM, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, Quàng Văn P gặp và hỏi mua được của một nam thanh niên dân tộc Thái ( Quàng Văn P không biết tên và địa chỉ cụ thể ở đâu) được một gói ma túy được gói bằng nilon màu trắng với giá là 50.000đ. Sau khi mua được ma túy, Quàng Văn P cho vào túi quần đằng trước đang mặc và điều khiển xe đi về.

Khi đến khu vực Bản S, xã TC, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La gặp tổ Công tác Công an huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La yêu cầu kiểm tra ma túy. Quá trình kiểm tra phát hiện và bắt quả tang Quàng Văn P có hành vi: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ vật chứng như đã nêu.

Bản cáo trạng số: 110/CT-VKS, ngày 09-9-2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La truy tố bị cáo Quàng Văn P về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La trong phần tranh luận vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Quàng Văn P về điểm, điều, khoản và tội danh trên.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Quàng Văn P phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Quàng Văn P mức án từ 18 ( mười tám) tháng đến 22 ( hai mươi hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18-6-2020.

Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Quàng Văn P.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 0,13 gam Heroine ký hiệu P1 + 01 ( một) mảnh nilon màu trắng + 01 ( một) vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu.

Miễn toàn bộ án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Ý kiến của bị cáo Quàng Văn P: Nhất trí như lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều là hợp pháp.

. Ngày 18-6-2020, Quàng Văn P đã có hành vi cất giữ trái phép 0,19 gam ma túy, loại chất Heroine. Mục đích cất giữ để sử dụng cho bản thân.

Lời khai nhận tội của bị cáo Quàng Văn P tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, Biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu khác có trong hồ sơ.

Trên cơ sở đó có đầy đủ điều kiện, đủ căn cứ kết luận bị cáo Quàng Văn P phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý, quy định điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của bị cáo Quàng Văn P với khối lượng không lớn, mục đích tàng trữ để sử dụng cho bản thân, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, làm lây lan phát sinh các tệ nạn ma tuý và những tệ nạn xã hội khác, là nguy hiểm cho xã hội gây mất trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng. Do vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm về toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tuy nhiên khi áp dụng hình phạt cần cân nhắc về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo Quàng Văn P thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Là tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo phạm tội lần đầu, không có tiền án, tiền sự.

Cần lên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để đảm bảo tính chất nghiêm minh của pháp luật. Cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người làm ăn lương thiện có ích cho xã hội.

Bị cáo Quàng Văn P đang bị tạm giam, tiếp tục tạm giam bị cáo trong hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án. Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản riêng, không có nghề nghiệp. Không áp dụng hình phạt bổ sung ( phạt tiền) đối với bị cáo.

Về nguồn gốc số ma túy Quàng Văn P khai mua của một nam thanh niên dân tộc Thái (Quàng Văn P không biết họ tên và địa chỉ cụ thể ở đâu) tại bản T, xã TM, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La vào ngày 18-6-2020 với giá 50.000đ. Do chỉ có lời khai duy nhất của Quàng Văn P, ngoài ra không có chứng cứ nào khác nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La không có căn cứ để điều tra xử lý.

Đối với một chiếc xe mô tô, không xác định số khung, số máy, không yếm, không biển kiểm soát, xe đã qua sử dụng cũ bị cáo dùng vào việc phạm tội. Quá trình điều tra xác định là tài sản chung của vợ chồng bị cáo và bà Lường Thị N. Việc bị cáo dùng xe vào việc phạm tội bà N không biết. Bà N có đơn xin lại xe. Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La đã trả lại chiếc xe trên cho bà Lường Thị N là có căn cứ cần được chấp nhận.

. Về vật chứng vụ án: Đối với 0,13 gam Heroine ký hiệu P1 còn lại sau trích rút gửi giám định là hàng Nhà nước cấm lưu hành cần tuyên tịch thu tiêu hủy; Đối với 01 mảnh nilon màu trắng + 01 ( một) vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu. Xét không còn giá trị sử dụng cần tuyên tịch thu tiêu hủy. Căn cứ điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

. Về án phí: Bị cáo Quàng Văn P thuộc diện hộ cận nghèo, là đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, miễn toàn bộ án phí Hình sợ sơ thẩm cho bị cáo. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14; ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự:

Tuyên bố bị cáo Quàng Văn P phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Xử phạt bị cáo Quàng Văn P 20 ( hai mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18-6-2020 ( là ngày bắt giam giữ đối với bị cáo).

2. Về vật chứng: Căn cứ điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tiêu hủy:

Một phong bì thư niêm phong, mặt trước ghi: Vật chứng nhập kho vụ Quàng Văn P – Tàng trữ trái phép chất ma túy, bắt ngày 18-6-2020. Mặt sau được dán giấy niêm phong của Công an tỉnh Sơn La số 023954, đè lên các mép dán của phong bì và trên giấy niêm phong có đầy đủ các chữ ký, họ tên giáp lai của các thành phần tham gia niêm phong và hai dấu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an huyện Thuận Châu. Bên trong có một mảnh ninlon màu trắng + một vỏ phong bì đã bóc mở niêm phong vật chứng ban đầu.

Một phong bì niêm phong mặt trước ghi: Vật chứng nhập kho vụ Quàng Văn P – Tàng trữ trái phép chất ma túy, xảy ra ngày 18-6-2020, xảy ra tại xã TC, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La gồm có: 01 phong bì niêm phong gửi giám định đã bóc mở + chất bột màu trắng thuộc mẫu gửi gián định ký hiệu P1 = 0,13 gam. Mặt sau dán giấy niêm phong của Công an tỉnh Sơn La số: 038991 đè lên các mép dán của phong bì.

3.Về Án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14; Ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Miễn toàn bộ chịu án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo Quàng Văn P.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo Quàng Văn P được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ