vanban.org

Bản án 115/2020/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Cần Thơ Tuyên án 14/10/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 14/10/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: điểm c khoản 2 Điều 327; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Tích T phạm tội “Chứa mại dâm”. Xử phạt: Bị cáo Phạm Tích T 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 14/02/2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Phạm Tích T phạm tội “Chứa mại dâm”. - phạm tội chứa mại dâm (điều 327 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: điểm c khoản 2 Điều 327; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 327 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 115/2020/HS-PT
Ngày: 14 - 10 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Bích Vân

Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Minh Trang

Bà Trương Thị Liên

- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Anh Thư – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông La Quốc Khánh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 14 tháng 10 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 116/2020/TLPT-HS ngày 17/8/2020, đối với bị cáo Phạm Tích T, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 62/2020/HSST, ngày 07/7/2020 của Tòa án nhân dân quận T.

Bị cáo có kháng cáo:

Phạm Tích T, sinh năm: 1997;

Nơi đăng ký thường trú: Khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.

Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không;

Nghề nghiệp: Quản lý nhà trọ; Trình độ học vấn: 12/12;

Con ông Phạm Truyền Th, sinh năm 1970 và bà Võ Thị H, sinh năm 1968;

Chị ruột có 01 người, sinh năm 1990;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giam có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 14 giờ 25 phút ngày 14/02/2020, đội Cảnh sát hình sự Công an

quận T, phát hiện bắt quả tang tại Nhà trọ H, số nhà 597, Khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ do Phạm Tích T đang quản lý có 03 cặp nam, nữ đang có hành vi mua bán dâm gồm:

- Tại Phòng số 2: Người mua dâm Nguyễn Văn H và người bán dâm Dương Thị Thu T2.

- Tại Phòng số 5: Người mua dâm Phạm Hoàng P và người bán dâm Ngô Ngọc D.

- Tại Phòng số 6: Người mua dâm Hồ Quốc Th1 và người bán dâm Trần Thị Thanh T1.

Tang vật thu giữ:

- 02 bao cao su đã qua sử dụng, 07 bao cao su chưa sử dụng.

- 01 Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh, 01 Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh trật tự, 02 sổ quản lý lưu trú, 01 sổ nhật ký lưu trú.

- 05 điện thoại di động gồm (01 điện thoại di động hiệu Oppo F7 màu xanh, sim số 0907499418; 01 điện thoại di động hiệu Oppo F9 màu xanh đen, sim số 0907798806; 01 điện thoại hiệu Oppo A37 màu hồng, sim số 0944378350; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 màu vàng; 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max màu vàng đồng, 01 đầu thu camera hiệu KBVision.

- Tiền Việt Nam 1.802.000đồng (trong đó: của Dương Thị Thu T2 là 1.087.000đồng, của Ngô Ngọc D là 455.000 đồng, của Trần Thị Thanh T1 là 260.000đồng).

Quá trình điều tra:

- Phạm Tích T khai nhận: nhà trọ H do cha bị cáo là ông Phạm Truyền Th đại diện hộ kinh doanh, với ngành nghề kinh doanh nhà trọ cho thuê lưu trú theo Giấy chứng nhận đăng ký Hộ kinh doanh số 57F8008563 của Phòng tài chính kế hoạch Ủy ban nhân dân quận T, thành phố Cần Thơ. Trong quá trình hoạt động kinh doanh ông Th giao lại cho T quản lý việc cho khách đến thuê phòng trọ từ 06 giờ đến 22 giờ hàng ngày. Quá trình được giao quản lý việc cho thuê nhà trọ H từ tháng 01/2020 đến ngày 14/02/2020, Phạm Tích T biết rõ các đối tượng gái bán dâm Trần Thị Thanh T1, Dương Thị Thu T2, Ngô Ngọc D, Nguyễn Thị Bích T3 đến thuê phòng trọ để thực hiện hành vi bán dâm cho khách, nhưng T vẫn nhiều lần chấp nhận cho các đối tượng thuê phòng để thực hiện việc mua bán dâm, nhằm để thu lợi bất chính từ việc thu tiền phòng với giá 40.000 đồng/giờ. Ngày 14/02/2020 T cho Trần Thị Thanh T1 thuê phòng hai lần để bán dâm cho khách. Ngoài ra T còn cho Dương Thị Thu T2, Ngô Ngọc D thuê phòng để bán dâm cho khách thì bị bắt quả tang.

Gia đình Phạm Tích T tự nguyện giao nộp tiền thu lợi bất chính của T là 12.000.000 đồng; Nguyễn Văn H tự nguyện nộp 220.000 đồng tiền mua dâm.

- Trần Thị Thanh T1 khai nhận: vào khoảng tháng 06/2019, T1 đến khu vực T, phường T, quận T, thuê đất mở quán cà phê và đặt tên quán là C, để kinh doanh bán cà phê và hoạt động mại dâm, đến khoảng tháng 8/2019, thì có Ngô Ngọc D cũng là gái bán dâm đến gặp T1 xin phụ giúp việc bán cà phê cho T1 và ở lại quán cùng T1 để bán dâm cho khách, thì T1 đồng ý, nhưng T1 nói với D là quán mới mở chưa có nhiều khách nên kêu D cho T1 số điện thoại di động để khi nào có khách mua dâm thì T1 sẽ gọi cho D đến bán dâm. Đến ngày 13/02/2020, T1 điện thoại rủ D đến quán để bán cà phê tiếp T1 và cùng bán dâm thì D đồng ý, hình thức bán dâm là khi có khách đến uống cà phê có nhu cầu mua dâm thì T1 sẽ là người trực tiếp gặp khách trao đổi, thỏa thuận giá và trực tiếp đi bán dâm, nếu có khách đông thì T1 sẽ giới thiệu cho D đi bán dâm cùng, sau khi D bán dâm cho khách xong thì phải trả tiền môi giới cho T1 là 20.000đồng. Ngày 14/02/2020, Phạm Hoàng P và Hồ Quốc Th1 đến quán cà phê C uống cà phê và có nhu cầu mua dâm nên T1 đã thỏa thuận giá với P và Th1, giá mua dâm là 200.000 đồng/lượt, thì P và Th1 đồng ý. T1 nói lại với D và cùng D đến nhà trọ H để thực hiện hành vi bán dâm cho P và Th1, trong lúc đang thực hiện hành vi bán dâm thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang.

- Cơ quan Cảnh sát điều tra cũng đã chứng minh được, ngoài thực hiện hành vi bán dâm tại nhà trọ H, thì trước đó Trần Thị Thanh T1, Dương Thị Thu T2, Ngô Ngọc D còn nhiều lần thực hiện hành vi bán dâm cho khách mua dâm, tại nhà trọ D thuộc khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.

- Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, đã ra Quyết định xử lý đồ vật, tài liệu:

+ Trả lại cho Phạm Truyền Th: 01 Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh, 01 Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh trật tự, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 vàng gold, 01 đầu thu ghi hình camera nhãn hiệu KBVision màu trắng đã qua sử dụng.

+ Trả lại cho Dương Thị Thu T2 01 điện thoại hiệu Oppo F7 màu đen, sim số 0907499418, tiền Việt nam là 927.000 đồng.

+ Trả lại cho Ngô Ngọc D 01 điện thoại di động Oppo F9 màu xanh đen, sim 0907798806, tiền Việt nam là 455.000 đồng.

Đối với Nguyễn Văn H, Dương Thị Thu T2, Phạm Hoàng P, Ngô Ngọc D, Trần Thị Thanh T1 và Nguyễn Thị Bích T3, đã có hành vi mua bán dâm nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Riêng đối với Nguyễn Thanh D chủ nhà trọ D, có hành vi thiếu trách nhiệm để xảy ra hoạt động mua bán dâm tại nhà trọ do mình quản lý nên Ủy ban nhân dân quận T, đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Tại bản án số 62/2020/HSST ngày 07/7/2020 của Tòa án nhân dân quận T đã áp dụng điểm c, Khoản 2, Điều 327; điểm s, Khoản 1, Khoản 2, Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Tích T phạm tội “Chứa mại dâm”.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Tích T 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 14/2/2020.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định hình phạt đối với Trần Thị Thanh T1, quyết định phần trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, phần án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 16- 17 tháng 7 năm 2020 bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt tù và hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo vẫn giữ yêu cầu kháng cáo với lý do bị cáo là người trực tiếp nuôi dưỡng ông nội – là anh hùng lực lượng vũ trang được tặng thưởng huy chương, huân chương kháng chiến; mẹ bị cáo bị tai biến không còn khả năng vận động rất cần có người chăm sóc; hoàn cảnh gia đình bị cáo có khó khăn.

Đại diện Viện kiểm sát nhận định cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo đúng tội danh, áp dụng đúng và đủ các tình tiết giảm nhẹ bị cáo được hưởng theo quy định; ở giai đoạn phúc thẩm bị cáo có cung cấp tài liệu thể hiện bị cáo đang trực tiếp nuôi ông Phạm Hồng Th2 là anh hùng lực lượng vũ trang, với tình tiết này chỉ xem xét cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không đủ điều kiện để được quyết định xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và cho hưởng án treo nên đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo; giữ y bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Bị cáo làm đơn kháng cáo đúng quy định về hình thức và thời hạn nên yêu cầu kháng cáo của bị cáo được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Đối chiếu các chứng cứ thấy rằng quá trình tiến hành tố tụng ở cấp sơ thẩm tuân thủ các quy định của pháp luật. Các chứng cứ tại hồ sơ đủ để kết luận bị cáo được gia đình giao cho quản lý việc cho thuê phòng trọ trong khoảng thời gian từ 06 giờ đến 22 giờ hàng ngày. Trong thời gian quản lý, bị cáo biết rõ một số đối tượng đến thuê phòng trọ để thực hiện hành vi bán dâm và cũng biết rõ hành vi này bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì hám lợi bị cáo đã cho các đối tượng này thuê phòng để thực hiện hành vi bán dâm với khách. Quá trình điều tra bị cáo khai nhận trong ngày 14/02/2020 bị cáo đã cho 03 cặp nam nữ thuê phòng để thực hiện hành vi mua bán dâm, trong đó cho T1 thuê phòng bán dâm đến 02 lần. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “chứa mại dâm” với tình tiết định khung theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 327 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

Khi quyết định hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo quy định tại đểm s khoản 1 Điều 51 và các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, mức hình phạt 05 năm tù đã tuyên đối với bị cáo là mức thấp nhất của khung hình phạt theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 327 Bộ luật Hình sự. Do vậy, để có cơ sở chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo hay không cần phải đối chiếu các tình tiết giảm nhẹ bị cáo được hưởng với điều kiện được quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo quy định tại khoản 1 Điều 54 và các điều kiện cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xét thấy: Quá trình xét xử phúc thẩm bị cáo có cung cấp giấy xác nhận của Ủy ban nhân dân địa phương về việc bị cáo đang trực tiếp nuôi dưỡng ông Phạm Hồng Th2- ông nội của bị cáo – đã được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang. Tuy nhiên, tình tiết này cũng không đủ điều kiện để xem xét để áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo chỉ có 01 tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s Điều 51 Bộ luật Hình sự nên không có cơ sở để quyết định hình phạt cho bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Bị cáo cũng không thỏa mãn các điều kiện để được xét cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự nên Đại diện Viện kiểm sát đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ y bản án sơ thẩm là có căn cứ để chấp nhận.

Các vấn đề khác không có kháng cáo, kháng nghị nên không đề cập đến.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Tích T, giữ y bản án sơ thẩm số 62/2020/HSST ngày 07/7/2020 của Tòa án nhân dân quận T, thành phố Cần Thơ.

Áp dụng: điểm c khoản 2 Điều 327; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Tích T phạm tội “Chứa mại dâm”.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Tích T 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 14/02/2020.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành.

Bị cáo phải nộp 200.000đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ