- Tranh chấp gì? án hình sự — "115 hai-ma tuy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn H phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 115/2019/HSST Ngày: 18/11/2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG, TỈNH BÌNH THUẬN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Thanh Nữ Kiều Oanh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trọng Di
Ông Phạm Văn Minh
Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Thị Mỹ Kỷ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong
Đại diện Viện kiểm sát huyện Tuy Phong tham gia phiên tòa: Ông Trần H Điền
- Kiểm sát viên.
Trong ngày 18 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 101/2019/HSST, ngày 18/10/2019 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Tấn H (tên gọi khác: H M), sinh ngày 02.11.2000
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: không đăng kí; chỗ ở hiện nay: thôn L, xã B, huyện T, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: công nhân; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tấn D và bà Đỗ Thị G; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt ngày 14.9.2019 theo Quyết định truy nã bị can, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Tuy Phong và có mặt tại phiên tòa
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 26.5.2018 Công an thị trấn P tiến hành tuần tra tại khu phố M1, thị trấn P, huyện T, Bình Thuận phát hiện Dương Minh H1, Nguyễn Phạm N, Nguyễn Văn N1, Nguyễn Tấn H và Lý Đức T1 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Thu giữ tại chổ ngồi của Minh H1, N, N1, T1 và Tấn H 01 gói nylon màu trắng kích thước 1x3cm, được hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng (được niêm phong); 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy đá, 01 bật lửa; Thu giữ của Dương Minh H1 01 ĐTDĐ hiệu Mobistar, màu đen; Thu giữ của Lý Đức T1 01 ĐTDĐ hiệu Oppo màu trắng;Thu giữ của Nguyễn Phạm N 01 ĐTDĐ hiệu Nokia màu đen, 01 xe mô tô hiệu Sirius Biển số 85B1-61553; Thu giữ của Nguyễn Văn N1 01 chiếc xe đạp màu hồng khung xe ghi chữ Songtain.
Tại bản Kết luận giám định số 481/KLGĐ-PC54 ngày 29.5.2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận, kết luận:
Mẫu M gửi giám định có khối lượng 0,2448 gam là Methamphetamine.
Quá trình điều tra xác định như sau: vào chiều ngày 26.5.2018 N điện thoại rủ Dương Minh H1 đi mua ma túy đá sử dụng, H1 đồng ý. Minh H1 nhắn tin cho Nguyễn Tấn H nhờ Tấn H đi mua ma túy đá dùm và rủ Tấn H sử dụng chung ma túy, Tấn H đồng ý. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày 26.5.2018 N điều khiển xe mô tô hiệu Sirius Biển số 85B1-61553 (xe N mượn của Nguyễn Tấn Ta là cha ruột của N) đến chở H thì lúc này có T1 (bạn của H) nên H rủ T1 đi chơi cùng. N, Minh H1 và T1 đi đến khu vực Trường tiểu học P 4 gặp Nguyễn Tấn H. N, Dương Minh H1 và Nguyễn Tấn H thỏa thuận sau khi mua được ma túy sẽ đến khu vực nhà hoang thuộc khu phố Minh Tân 4, thị trấn P, huyện T để sử dụng chung. N đưa cho Minh H1 350.000 đồng, Minh H1 điều khiển xe mô tô của N chở Tấn H đi mua ma túy. Trên đường đi Minh H1 hùn thêm 100.000 đồng và đưa cho Tấn H 450.000 đồng để mua ma túy đá và bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá. Tấn H và Minh H1 đi đến khu vực khu ba thị trấn P, huyện T gặp người thanh niên tên N2 (không rõ lai lịch) mua 01 gói ma túy đá với giá 400.000 đồng và 01 bộ dụng cụ để sử dụng ma túy đá. Tấn H cất giấu gói ma túy đá trong người đưa về giao cho N. N bỏ gói ma túy đá vào trong cốp xe và điều khiển xe mô tô chở Minh H1 và T1 đến khu vực nhà hoang thuộc khu phố M1, thị trấn P, huyện T để sử dụng. Tấn H nhờ Nguyễn Văn N chở đến khu vực nhà hoang, N1 đồng ý và điều khiển xe đạp chở Tấn H đến khu vực nhà hoang để gặp nhóm N. Đến khoảng 20 giờ 30 phút ngày 26.5.2018 N, T1, Minh H1, N1 và Tấn H chuẩn bị sử dụng ma túy thì bị phát hiện bắt giữ.
Sau khi sự việc xảy ra, Nguyễn Tấn H đã bỏ trốn khỏi địa phương. Ngày 10.10.2018 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tuy Phong đã ra Quyết định truy nã bị can số 11 đến ngày 14.9.2019 H bị bắt theo lệnh truy nã và đã khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong: Viện kiểm sát vẫn giữ N quyết định truy tố theo Cáo trạng số: 108/QĐ/KSĐT/VKS/HS, ngày 18/10/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên đề nghị: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 91, khoản 1 Điều 101, xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn H từ 9 -12 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Đối với người thanh niên tên N2 đã bán Methamphetamine cho Nguyễn Tấn H do không rõ lai lịch nên sẽ tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.
Lời nói sau cùng: bị cáo không tranh luận gì với Kiểm sát viên chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan điều tra – Công an huyện Tuy Phong, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.
Về chứng cứ buộc tội bị cáo: tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Nguyễn Tấn H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, bị cáo khẳng định những lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra là hoàn toàn tự nguyện đúng sự thật, bị cáo không bị bức cung và Cáo trạng truy tố là đúng, không oan cho bị cáo. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của Nguyễn Phạm N và Dương Minh H1 trong Bản số 118/2018/HSST ngày 29.11.2018 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong phù hợp với lời khai của người làm chứng, cũng như với biên bản thu giữ các tang vật chứng, kết quả giám định chất ma túy và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: vào ngày 26.5.2018 Nguyễn Phạm N, Dương Minh H1 và Nguyễn Tấn H có hành vi tàng trữ 0,2448 gam Methamphetamine để sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ.
Tại bản Kết luận giám định số 481/KLGĐ-PC54 ngày 29.5.2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận, kết luận: mẫu M gửi giám định có khối lượng 0,2448 gam là Methamphetamine
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:
Bị cáo H sau khi phạm tội đã bỏ trốn khỏi địa phương nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tuy Phong đã ra Quyết định truy nã bị can số 11 ngày 10.10.2018, ngày 27/01/2019 Công an huyện Tuy Phong ra quyết định số 05 tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự. Việc bỏ trốn của bị cáo đã gây khó khăn cho Cơ quan điều tra, ngày 14.9.2019 H bị bắt theo lệnh truy nã.
Hành vi phạm tội nêu trên của Nguyễn Tấn H là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý về ma túy của Nhà nước, là một trong những N nhân gây ra tệ nạn xã hội và làm lây truyền các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho tính mạng và sức khỏe cộng đồng, gây mất trật tự trị an tại địa phương.
Vụ án có đồng phạm nhưng là đồng phạm giản đơn, Nguyễn Phạm N, Dương Minh H1 và Nguyễn Tấn H đã thống nhất cùng nhau cất giấu 0,2448 gam Methamphetamine để sử dụng nên phải chịu chung trách nhiệm đối với toàn bộ hành vi và hậu quả xảy ra. Trong đó, Nguyễn Phạm N, Dương Minh H1 đã bị xử lý trong vụ án trước tại Bản án số 118/2018/HSST ngày 29.11.2018 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong nên không xem xét giải quyết trong vụ án này.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Nguyễn Tấn H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự
Bị cáo Nguyễn Tấn H đã thành khẩn khai báo, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Nguyễn Tấn H sinh ngày 02.11.2000 khi thực hiện hành vi phạm tội đang ở tuổi vị thành niên, nhận thức có phần hạn chế nên áp dụng chương XII của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) để xem xét xử lý nhẹ hơn so với người đã thành niên.
Với tính chất mức độ phạm tội của bị cáo, trên cơ sở cân nhắc các tình tiết vụ án, nhân thân của bị cáo thấy rằng cần thiết phải cách ly bị cáo H ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo trở thành người tốt, công dân có ích cho xã hội.
Về xử lý vật chứng: các tang vật chứng đã được xử lý trong vụ án trước tại Bản án số 118/2018/HSST ngày 29.11.2018 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong nên không xem xét xử lý trong vụ án này.
Về án phí: bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 91; khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn H phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn H 12 (Mười hai) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 14.9.2019.
Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo pH nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm
Về quyền kháng cáo: Án xử công khai có mặt bị cáo. Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Tòa án ND Tỉnh Bình Thuận; - VKSND (Tỉnh + huyện); - Công an huyện; - Bị cáo; - Chi cục THADS huyện; - Lưu Hồ sơ. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Thanh Nữ Kiều Oanh |