- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 115/2019/HS-ST Ngày 25 - 10 - 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thành Lâm.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Thái Quang Định, cán bộ nghỉ hưu tại phường Yên Thanh, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.
2. Ông Nguyễn Đức Thủy, Phó Phòng an toàn, Công ty nhiệt điện Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Yến, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Viết Tâm, Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 102/2019/TLST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 110/2019/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2019, đối với bị cáo:
Nguyễn Ngọc T, sinh ngày: 06/7/1990 tại thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: ..........., thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân T và bà Nguyễn Thị L; có vợ là Bùi Thị Thu H; có 02 con: con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ ngày 27/6/2019; tạm giam ngày 06/7/2019; hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.
Những người làm chứng:
1) Ông Nguyễn Văn T; sinh năm: 1957; địa chỉ: …………., thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.
2) Chị Trần Thị L; sinh năm: 1979; địa chỉ: …………., thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 15 phút ngày 27/6/2019, tại tổ 6, khu 1, phường Yên Thanh, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, Tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Công an tỉnh Quảng Ninh phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Công an thành phố Uông Bí và Đoàn đặc nhiệm phòng chống ma túy số 1, Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển phát hiện bắt quả tang Nguyễn Ngọc T đang có hành vi tàng trữ trái phép chất nghi là ma túy. Vật chứng thu giữ trong lòng bàn tay trái của T: 01 gói nước xả vải nhãn hiệu Downy, màu đỏ đen, mặt sau dính 01 túi nilon màu trắng, kích thước khoảng (2,5 x 2,5) cm, chứa chất tinh thể trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu xanh trắng gắn sim số 0936.862.102; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter, màu xanh đen, BKS 16M1 – 3738 và số tiền 75.000 đồng.
Tại Bản kết luận giám định số: 611/GĐMT ngày 02/7/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: Mẫu vật thu giữ của Nguyễn Ngọc T gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng: 0,599 gam (Không phẩy năm chín chín gam).
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Ngọc T khai nhận: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 27/6/2019, Tuấn gọi điện thoại cho một người đàn ông không quen biết (trước đó Tuấn đã mua ma túy của người này) và nói: “Đồ (ma túy) lần trước không chơi được, ông xem có đồ khác để tôi lấy”. Người này nói sẽ cho Tuấn một ít ma túy để thử. Sau đó, Tuấn điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter, màu xanh đen, BKS 16M1 – 3738 đi vào một ngõ nhỏ cạnh chợ Yên Thanh thì gặp người đàn ông này. Người này bảo Tuấn “Ở gói Downy dưới mặt đường” rồi bỏ đi. Tuấn nhìn xung quanh thấy ở lề đường có 01 gói nước xả vải nhãn hiệu Downy, màu đỏ đen, mặt sau dính 01 túi nilon màu trắng, kích thước khoảng (2,5 x 2,5) cm, chứa chất tinh thể trắng. Tuấn cầm gói nước xả vải dính túi nilon chứa ma túy trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe mô tô ra đến đầu ngõ thì bị lực lượng công an phát hiện, bắt quả tang, thu giữ số ma túy, cùng một số đồ vật tài sản Tuấn mang theo.
Giai đoạn điều tra, những người làm chứng nêu trên đều có lời khai về toàn bộ nội dung sự việc mình đã trực tiếp chứng kiến Công an kiểm tra, phát hiện bị cáo tàng trữ ma túy trên người thì bị bắt quả tang, thu giữ những vật chứng và tài sản nêu trên.
Tại bản Cáo trạng số 112/CT-VKSUB ngày 05 tháng 9 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị can Nguyễn Ngọc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, đề nghị: xử phạt bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bắt (ngày 27/6/2019); không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Áp dụng: các điểm a và c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1, các điểm a và c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu và tiêu hủy số ma túy hoàn lại sau giám định, 01 (một) túi nước xả vải nhãn hiệu Downy và 01 (một) chiếc sim điện thoại số 0936.862.102; Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu xanh trắng; Trả lại cho bị cáo số tiền 75.000 đ (bảy mươi lăm nghìn đồng).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tài liệu, chứng cứ đã thu thập, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Uông Bí, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về tài liệu, chứng cứ đã thu thập, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã thu thập, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội phạm:
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của những người làm chứng khai báo mình trực tiếp chứng kiến sự việc bị cáo tàng trữ ma tuý trên người thì bị bắt quả tang. Quá trình thu giữ, niêm phong, bảo quản, giao nhận vật chứng có sự chứng kiến của bị cáo và giám định đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật, đảm bảo khách quan, trung thực và có cơ sở khoa học, phù hợp với bản Kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh cùng những tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ 15 phút ngày 27/6/2019, tại tổ 6, khu 1, phường Yên Thanh, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, Nguyễn Ngọc T có hành vi tàng trữ 0,599 gam (không phẩy năm chín chín gam) ma túy loại Methamphetamine với mục đích để sử dụng thì bị Công an bắt quả tang.
Methemphetamine là chất ma túy rất độc, bị Nhà nước tuyệt đối cấm mua bán, tàng trữ, sử dụng theo quy định tại Nghị định số: 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ.
Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...
c) ... Methamphetamine... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;...”.
Từ những căn cứ nêu trên có đủ cơ sở kết luận: Nguyễn Ngọc T là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý, đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa truy tố bị cáo là có cơ sở pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo xâm phạm đến trật tự quản lý, kiểm soát các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự, trị an xã hội, làm bất bình trong quần chúng nhân dân địa phương. Ma túy đang là hiểm họa của toàn xã hội, nó không những trực tiếp xâm hại đến sức khỏe về tinh thần, thể chất và tài sản của người sử dụng, gây lo lắng, buồn phiền cho những người thân trong gia đình, mà còn là một trong những nguyên nhân làm lan truyền bệnh tật và các tệ nạn xã hội khác. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm minh.
Giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước.
Về hình phạt:
Đối với hình phạt chính: Căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự, sau khi cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và khối lượng ma tuý bị cáo đã tàng trữ, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng, có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhưng cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định không những nhằm trừng trị mà còn để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình, phòng ngừa chung cho xã hội, đáp ứng được mục đích của hình phạt.
Đối với hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 thì bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Nhưng xét thấy bị cáo là lao động tự do, không có tài sản riêng. Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng và tài sản khác bị thu giữ: Số ma túy thu của bị cáo hoàn lại sau khi giám định là chất Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, cùng 01 túi nước xả vải nhãn hiệu Downy và chiếc sim điện thoại số 0936.862.102 không còn giá trị cần tịch thu và tiêu hủy; Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu xanh trắng là công cụ bị cáo dùng để liên lạc mua ma túy hiện còn giá trị cần tịch thu sung quỹ nhà nước; số tiền 75.000đ (bảy mươi lăm nghìn đồng) thu giữ của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội trả lại cho bị cáo. Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter, màu xanh đen, mang BKS 16M1 – 3738, chưa xác định được chủ sở hữu, Cơ quan điều tra tách ra tiếp tục làm rõ, Hội đồng xét xử không giải quyết.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo: Quá trình điều tra không xác định được lai lịch cụ thể nên không có cơ sở xử lý theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo bản án: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; khoản 1, các điểm a và c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136, khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 27/6/2019).
3. Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong hoàn lại sau giám định số 611/GĐMT của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh; 01 (một) túi nước xả vải nhãn hiệu Downy và 01 (một) chiếc sim điện thoại số 0936.862.102.
4. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu xanh trắng.
5. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Ngọc Tuấn số tiền 75.000đ (bẩy mươi lăm nghìn đồng).
Tình trạng những vật chứng nêu trên theo Biên bản giao vật chứng ngày 09/9/2019 giữa Công an thành phố Uông Bí và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.
6. Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc T phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
7. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND TP. Uông Bí; - Công an TP. Uông Bí; - TAND T. Quảng Ninh; - VKSND T. Quảng Ninh; - THADS TP. Uông Bí; - Sở tư pháp tỉnh Quảng Ninh; - Lưu hồ sơ; Lưu TA. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Lâm |