vanban.org

Bản án 115/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An Tuyên án 17/10/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về điều luật áp dụng và tội danh: Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Kha Văn P: 16 (Mười sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam ngày 0…

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu và tiêu hủy 01 (một) phong bì bưu điện viền xanh đỏ, được dán kín, trên mép dán có đầy đủ chữ ký của hội đồng tham gia niêm phong và chữ ký của bị cáo Kha Văn P, bên trong chứa số ma túy (heroin… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Kha Văn Ph - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về điều luật áp dụng và tội danh: Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Kha Văn P: 16 (Mười sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam ngày 0…
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KS
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 115/2019/HS-ST
Ngày: 17-10-2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KS, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vương Hoàng Hào

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Và Bá Cải

Bà Vi Thị Khiểu

- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Văn Hải – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện KS, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện KS, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Anh Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện KS, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 107/2019/TLST-HS, ngày 09 tháng 9 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 127/2019/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2019 đối với:

Bị cáo: Kha Văn P. Tên gọi khác: Không. Sinh năm 1969 tại xã HL, huyện KS, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Bản Noọng Ó, xã HL, huyện KS, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ học vấn: 8/10; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Kha Xén Bún và bà Kha Mẹ Xén Bún (tên gọi khác: Kha Thị Bún); Có vợ họ và tên: Kha Thị Hoong và 03 con, lớn nhất sinh năm 1993, nhỏ nhất sinh năm 1997; tiền sự: Không, tiền án: Ngày 29/3/2013, bị Tòa án nhân dân huyện KS, tỉnh Nghệ An xử phạt 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 04/01/2019; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/6/2019 cho đến nay. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Kha Văn P: Ông Lê Công Thiết. Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Nghệ An. Có mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Kha Văn T, sinh năm 2000. Nơi cư trú: Bản Noọng Ó, xã HL, huyện KS, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

Người chứng kiến: Anh Lô Văn Khải, sinh năm 1984. Nơi cư trú: Bản Na, xã HL, huyện KS, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 11 giờ ngày 04/6/2019, Kha Văn P đi bộ từ nhà đến nhà Kha Bún Ma tại bản Noọng Ó, xã HL, huyện KS, tỉnh Nghệ An hỏi và mua của Ma 01 viên ma túy tổng hợp và 01 gói heroine với giá 50.000 đồng. Do Phong chưa có tiền trả nên Ma cho nợ. Sau khi mua được ma túy xong, Phong lấy gói heroine chia thành 02 gói nhỏ, gói trong giấy trắng có dòng kẻ cất trong người đi về nhà. Khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, Phong điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 37K1-136.57 đi ra khu vực cầu Xốp Nhị, xã HL, huyện KS, tỉnh Nghệ An thì gặp hai người đàn ông tên “Cầu” và “Tuyên” (bạn của Phong). Tại đây, Phong rủ Cầu và Tuyên vào rừng thuộc bản Xốp Nhị, xã HL, huyện KS để cùng nhau sử dụng ma túy thì Cầu và Tuyên đồng ý. Khoảng 13 giờ, khi Phong đang chuẩn bị sử dụng ma túy thì bị Công an huyện KS phát hiện bắt quả tang cùng tang vật, còn Cầu và Tuyên lợi dụng sơ hở đã bỏ trốn.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại vào hồi 09 giờ ngày 06/6/2019 đã xác định: Chất màu trắng có khối lượng 0,1gam (Không phẩy một). Viên nén màu hồng có khối lượng 0,1gam (Không phẩy một). Hội đồng đã trích 0,05 gam (Không phẩy không năm) của hai chất trên để gửi đi giám định.

Tại bản kết luận giám định số 847/KL-PC09(MT), ngày 11/6/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Mẫu chất màu trắng thu giữ của Kha Văn P gửi tới giám định là ma túy (Heroine); Mẫu viên nén màu hồng thu giữ của Kha Văn P gửi tới giám định là ma túy (Methamphetamine).

Cáo trạng số 114/CT-VKS-HS ngày 06/9/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện KS, tỉnh Nghệ An truy tố Kha Văn P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung cáo trạng, luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Kha Văn P mức án từ 14 đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo; Về xử lý vật chứng: 01 (Một) phong bì bưu điện viền xanh đỏ, được dán kín, trên mép dán có đầy đủ chữ ký của hội đồng tham gia niêm phong và chữ ký của bị cáo Kha Văn P, bên trong chứa số ma túy (Heroine và Methamphetamien) có khối lượng còn lại là 0,1 gam (không phẩy một) cùng vỏ giấy niêm phong ban đầu là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu và tiêu hủy; Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Kha Văn P đồng ý với nội dung bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo không có tranh luận gì; Bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Về tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo Kha Văn P đồng ý như quan điểm, đề nghị của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện KS. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ để xử bị cáo mức án thấp nhất như mức đề nghị của Kiểm sát viên.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Kha Văn T trình bày: Anh không biết việc phạm tội của bị cáo. Anh đã nhận lại tài sản là chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius, biển kiểm soát 37K1-136.57. Nay anh không có ý kiến, yêu cầu gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện KS, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện KS, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Về việc vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt người chứng kiến anh Lô Văn Khải, tuy nhiên không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Kha Văn P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 04/6/2019, tại khu vực bản Xốp Nhị, xã HL, huyện KS, tỉnh Nghệ An, Kha Văn P là người có đầy đủ năng lực hành vi để nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có ma túy để sử dụng nên đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy (gồm Heroine và Methamphetamine) với khối lượng là 0,2 gam (không phẩy hai) thì bị Công an huyện KS phát hiện và bắt quả tang. Căn cứ Điều 4 của Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng chất ma túy của Bộ luật hình sự thì tổng khối lượng của hai chất ma túy gồm Heroine và Methamphetamine thuộc trường hợp quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Xét tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm quy định về quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo cũng nhận thức được ma túy là chất Nhà nước nghiêm cấm, vì ma túy không những gây tác hại xấu đến đời sống kinh tế xã hội, sức khỏe của con người mà còn là mầm mống phát sinh các tệ nạn xã hội, các tội phạm khác. Bị cáo đã bị kết án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” nhưng chưa được xóa án tích mà lại cố ý thực hiện hành vi phạm tội, do đó hành vi phạm tội lần này của bị cáo thuộc trường hợp “Tái phạm” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, cần lên một mức án nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, do đó khi quyết định hình phạt nên xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có thu nhập công việc ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo là có căn cứ.

Về xử lý vật chứng: 01 (Một) phong bì bưu điện viền xanh đỏ, được dán kín, trên mép dán có đầy đủ chữ ký của hội đồng tham gia niêm phong và chữ ký của bị cáo Kha Văn P bên trong chứa số ma túy (Heroine và Methamphetamine) có khối lượng còn lại là 0,1 gam (không phẩy một) cùng vỏ giấy niêm phong ban đầu là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu và tiêu hủy.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius, biển kiểm soát 37K1-136.57 , màu đỏ đen chủ sở hữu là anh Kha Văn T, quá trình điều tra làm rõ không liên quan đến hành vi phạm tội của Phong nên đã trả lại cho chủ sở hữu là đúng quy định của pháp luật.

Đối với Kha Bún Ma là người đã bán ma túy cho Kha Văn P, quá trình xác minh không có mặt tại địa phương, không biết đi đâu làm gì, khi nào điều tra được sẽ xử lý sau theo quy định. Đối với hai người đàn ông tên “Cầu” và “Tuyên” quá trình điều tra, xác minh không có mặt tại địa phương nên chưa có căn cứ xử lý, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về điều luật áp dụng và tội danh: Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Kha Văn P: 16 (Mười sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam ngày 04/6/2019.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu và tiêu hủy 01 (một) phong bì bưu điện viền xanh đỏ, được dán kín, trên mép dán có đầy đủ chữ ký của hội đồng tham gia niêm phong và chữ ký của bị cáo Kha Văn P, bên trong chứa số ma túy (heroine và methamphetamine) có khối lượng còn lại là 0,1 gam (không phẩy một) cùng vỏ giấy niêm phong ban đầu.

(Đặc điểm, tình trạng như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/9/2019 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện KS và Chi cục Thi hành án dân sự huyện KS tỉnh Nghệ An).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Kha Văn P phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Kha Văn P, anh Kha Văn T có quyền kháng cáo bản án đến Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Cỡ chữ