vanban.org

Bản án 115/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Lê Thị T được ly hôn anh Nguyễn Cảnh D.

Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Thị Hồng N, sinh ngày 16/02/2015 cho chị Lê Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu Hồng N đủ 18 tuổi. Tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Nguyễn Cảnh D. Anh Nguyễn Cảnh D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị T - Nguyễn Cảnh D"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Lê Thị T được ly hôn anh Nguyễn Cảnh D.
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật tố tụng dõn sự; Điều 35 Bộ luật tố tụng dõn sự; Điều 39 Bộ luật tố tụng dõn sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN ĐÔ LƯƠNG
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 115/2019/ HNGĐ - ST
Ngày: 30/05/2019
"V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn K

- Hội thẩm nhân dân: +. Ông: Trần Văn L

+. Ông: Lê Văn N

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị H – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị M - Kiểm sát viên

Ngày 30 tháng 05 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 23/2019/TLST-HNGĐ ngày 14/02/2019 về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2019/TLST-HNGĐ ngày 06/5/2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị T, sinh năm 1996. Vắng mặt. Nơi ĐKHKTT: Xóm 04, xã Đông Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An Cư trú tại: 278 Bưng Ông Thoàn, Tăng Nhơn Phú B, quận 9, TP Hồ Chí Minh

- Bị đơn: Anh Nguyễn Cảnh D, sinh năm 1990. Vắng mặt. Nơi cư trú: Xóm 04, xã Đông Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 12/02/1019, tại bản tự khai nguyên đơn chị Lê Thị Trang trình bày:

- Về quan hệ tình cảm: Chị Lê Thị T và anh Nguyễn Cảnh D kết hôn hoàn toàn tự nguyện, có tìm hiểu nhau, có đăng ký kết hôn ngày 19/9/2014 tại UBND xã Đông Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn được một thời gian thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân do tính tình không hợp, anh D sống không có trách nhiệm với gia đình, thường có hành vi bạo hành đối với chị T, vì vậy vợ chồng đã sống ly thân từ giữa năm 2018 cho đến nay. Do tình cảm vợ chồng không còn, chị T đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Nguyễn Cảnh D, không yêu cầu đoàn tụ.

- Về quan hệ con chung: Chị Lê Thị T và anh Nguyễn Cảnh D có 01 con chung là cháu Nguyễn Thị Hồng N, sinh ngày 16/02/2015. Nếu ly hôn, chị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục cháu Hồng N. Không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về quan hệ tài sản chung và khoản nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt và niêm yết thông báo thụ lý vụ án, nhiều thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải hợp lệ cho anh Nguyễn Cảnh D nhưng anh Nguyễn Cảnh D đều vắng mặt không có lý do, không phản hồi các thống báo của Tòa án. Do đó tại hồ sơ vụ án không có bản tự khai của anh Nguyễn Cảnh D, vụ án không tiến hành hòa giải được. Chị Lê Thị T đã có đơn yêu cầu không tiến hành hòa giải nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương phát biểu ý kiến theo quy định tại Điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự như sau:

- Về tố tụng: Thẩm phán đã tuân thủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong việc thụ lý vụ án, thông báo thụ lý vụ án, xác định quan hệ tranh chấp, xác minh và thu thập chứng cứ, tổ chức hòa giải cũng như thời hạn giải quyết vụ án.

Hội đồng xét xử tuân thủ đúng quy định về thành phần, nguyên tắc xét xử, trình tự tố tụng tại phiên tòa.

Thư ký Tòa án thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn chấp hành nghiêm chỉnh quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn chấp hành không nghiêm chỉnh quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Sau khi phân tích các tình tiết của vụ án và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Lê Thị T được ly hôn anh Nguyễn Cảnh D.

- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Hồng N, sinh ngày 16/02/2015 cho chị Lê Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Nguyễn Cảnh D.

- Về quan hệ tài sản chung và khoản nợ: Tách quan hệ tài sản chung và nợ chung ra giải quyết trong vụ án khác khi đương sự có yêu cầu.

Chị Lê Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng:

Đây là vụ án hôn nhân gia đình do chị Lê Thị T yêu cầu, nơi cư trú của anh Nguyễn Cảnh D tại xóm 04, xã Đông Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Căn cứ khoản 1 Điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt, niêm yết quyết định đưa vụ án ra xét xử hợp lệ 02 lần cho chị Lê Thị T và anh Nguyễn Cảnh D. Tuy nhiên chị T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; anh D vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị Lê Thị T và anh Nguyễn Cảnh D theo quy định.

. Về nội dung:

- Về quan hệ tình cảm: Chị Lê Thị T và anh Nguyễn Cảnh D kết hôn hoàn toàn tự nguyện, có tìm hiểu nhau, có đăng ký kết hôn ngày 19/9/2014 tại UBND xã Đông Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An, đây là hôn nhân hợp pháp. Theo chị T sau khi kết hôn được một thời gian thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân do tính tình không hợp, anh D sống không có trách nhiệm với gia đình, thường có hành vi bạo hành đối với chị T, vì vậy vợ chồng đã sống ly thân từ giữa năm 2018 cho đến nay. Do tình cảm vợ chồng không còn, chị Trang đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Nguyễn Cảnh D, không yêu cầu đoàn tụ. Tòa án đã tiến hành hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả do anh D đều vắng mặt không có lý do, không chấp hành thông báo làm việc, mặc dù đã được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ, điều này chứng tỏ anh D không có ý thức níu kéo hạnh phúc gia đình. Theo kết quả xác minh tại UBND xã Đông Sơn thì chị T, anh D có phát sinh mâu thuẫn. Chị Trang có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải mà đưa vụ án ra xét xử để anh sớm ổn định cuộc sống. Xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị T và anh D không còn, mâu thuẫn vợ chồng thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận cho chị T được ly hôn với anh D để ổn định cuộc sống cho cả hai.

- Về quan hệ con chung: Chị Lê Thị T và anh Nguyễn Cảnh D có 01 con chung là cháu Nguyễn Thị Hồng N, sinh ngày 16/02/2015. Nếu ly hôn, chị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục cháu Hồng N. Không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con chung. Do cháu Hồng N còn nhỏ, lại là nữ giới, hơn nữa anh D không có mặt tại Tòa án để làm việc và thể hiện ý chí của mình nên cần giao cháu Hồng N cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi và tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con chung cho anh D như nguyện vọng của chị T là phù hợp với quy định của pháp luật và đạo đức xã hội.

- Về quan hệ tài sản chung và khoản nợ: Chị Lê Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh Nguyễn Cảnh D không hợp tác với Tòa án nên không có văn bản thể hiện ý chí về việc giải quyết vấn đề tài sản chung và khoản nợ. Do đó cần tách quan hệ tài sản chung và khoản nợ không giải quyết trong vụ án này mà giành quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác khi đương sự có yêu cầu và có đủ các điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật.

. Về án phí:

Chị Lê Thị Trang phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 51, 56, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, 35, 39, Điều 147 Bộ luật tố tụng dõn sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Lê Thị T được ly hôn anh Nguyễn Cảnh D.

2. Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Thị Hồng N, sinh ngày 16/02/2015 cho chị Lê Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu Hồng N đủ 18 tuổi. Tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Nguyễn Cảnh D.

Anh Nguyễn Cảnh D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Vì lợi ích của con chung các bên được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định.

3. Về quan hệ tài sản chung và khoản nợ: Tách quan hệ tài sản chung và khoản nợ không giải quyết trong vụ án này mà giành quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác khi đương sự có yêu cầu và có đủ các điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

4. Về án phí: Buộc chị Lê Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đô Lương theo biên lai số 0004276 ngày 12/02/2019. Chị Lê Thị T đã nộp đủ án phí.

5. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định./.

Cỡ chữ