vanban.org

Bản án 115/2019/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 19/04/2019 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S. 1. Ông Trần Hải Đ có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "t/c hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 115/2019/DS – ST
Ngày: 19/4/2019
V/v “Tranh chấp hợp đồng
vay tài sản”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thanh Huyền

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Phú Nhuận

Bà Nguyễn Thị Thu Cúc

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Đức Anh - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10,

Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh

tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Thúy – Kiểm sát viên

Ngày 19 tháng 4 năm 2019 tại Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí

Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 576/2018/TLST-DS ngày 12 tháng 12

năm 2018 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2019/QĐXXST-DS ngày 11 tháng

3 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 115/QĐST-DS ngày 29 tháng 3 năm

2019 giữa:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S

Địa chỉ: 266-268 đường N, Phường T, Quận B, TP.H.

Người đại diện hợp pháp : Ông Lã Ngọc M – sinh năm 1970 (xin vắng mặt) là

người đại diện theo ủy quyền (theo các Giấy ủy quyền số 4213/2017/QUQ-PL

ngày 28/12/2017 và Giấy ủy quyền số 244/2018/UQ-TTT ngày 07/03/2018)

Bị đơn : Ông Trần Hải Đ – sinh năm: 1988 (vắng mặt)

Địa chỉ: 260/30 đường H, Phường C, Quận Z, TP.H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ngày 07/03/2018 và quá trình giải quyết vụ án, đại diện

nguyên đơn là ông Lã Ngọc M trình bày:

Ngân hàng Thương mại cổ phần S (sau đây viết tắt là Ngân hàng S) cho ông

Trần Hải Đ vay tiền theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 12/04/2012 (gồm Giấy

đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản điều khoản và điều kiện phát hành thẻ

tín dụng của Ngân hàng – các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Hạn mức sử

dụng thẻ là 6.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất trong hạn và lãi suất

quá hạn theo bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng S.

Sau khi được cấp thẻ ông Đ đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là

8.980.000 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, kể từ ngày kích hoạt tới nay ông Đ đã trả cho Ngân hàng S tổng số tiền 8.450.000 đồng cả gốc và lãi, ông Đ không trả đủ số nợ gốc và lãi cho ngân hàng theo các điều khoản đã cam kết tại hợp đồng cấp thẻ tín dụng mặc dù ngân hàng đã thông báo nhiều lần. Dư nợ tính đến ngày 19/4/2019 là:

- Nợ gốc: 5.602.765 đồng

- Tiền lãi: 13.473.772 đồng

Tổng cộng là: 19.076.537 đồng.

Ngân hàng S yêu cầu ông Đ phải trả ngay toàn bộ số tiền nợ còn thiếu tạm tính

đến ngày 19/4/2019 là 19.076.537 đồng và tiền lãi phát sinh từ ngày 19/4/2019 cho đến ngày trả hết nợ theo qui định của Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 12/04/2012.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án

và triệu tập hợp lệ bị đơn là ông Trần Hải Đ đến Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn vắng mặt. Do đó, Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bị đơn và không tiến hành hòa giải được.

* Tại phiên tòa:

Chủ tọa phiên tòa công bố: Đại diện nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng

mặt, bị đơn đã được triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do.

Chủ tọa công bố tóm tắt nội dung vụ án và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ

án. Hội đồng xét xử thảo luận về những vấn đề cần giải quyết trong vụ án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 phát biểu:

Về thủ tục tố tụng:

Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa hôm

nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy trình tố tụng giải quyết vụ án. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định pháp luật. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không tham gia các buổi làm việc, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải là đã tự từ bỏ quyền trình bày và cung cấp chứng cứ của mình.

Về nội dung vụ án: Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nhận

thấy nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền 19.076.537 đồng (gồm nợ gốc là 5.602.765 đồng và nợ lãi quá hạn tính đến ngày xét xử là 13.473.772 đồng), tiền lãi còn tiếp tục tính từ sau ngày xét xử cho đến khi thanh toán xong nợ theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng là có cơ sở đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm tính trên số tiền phải thanh toán cho

nguyên đơn. Trả lại cho nguyên đơn tiền tạm ứng án phí đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên

tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền của Tòa án: Xét đơn khởi kiện của Ngân hàng S, xác định

đây là vụ án dân sự về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Bị đơn cư trú tại

Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

nhân dân Quận 10 theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm

a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Đại diện nguyên đơn đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn đã được

triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Do

đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng

theo quy định tại Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét các yêu cầu của nguyên đơn:

Hội đồng xét xử nhận thấy, qua các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và lời trình

bày của các đương sự đã có đủ cơ sở xác định:

Ngân hàng S và ông Trần Hải Đ có ký Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp

đồng và Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng kèm theo

(ông Đ ký và Ngân hàng S xác nhận ngày 12/4/2012). Các tài liệu này được gọi

chung là Hợp đồng. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông Đ đã thực hiện các giao dịch

thẻ với số tiền là 8.980.000 đồng nhưng sau đó chỉ thanh toán được 8.450.000 đồng.

Kể từ tháng 11/2013, do ông Đ ngưng không thanh toán tiền nợ cho Ngân hàng S.

Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản điều khoản và

điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng kèm theo, đồng thời căn cứ chi tiết giao

dịch và thanh toán nợ thể hiện tại bản Tóm tắt sao kê ngày 19/4/2019 thì tính đến

ngày xét xử ông Đ còn nợ Ngân hàng S tổng số tiền là 19.076.537 đồng (gồm nợ gốc

là 5.602.765 đồng và nợ lãi quá hạn tính đến ngày xét xử là 13.473.772 đồng).

Xét thấy, ông Đ đã sử dụng thẻ tín dụng do Ngân hàng S cấp để thanh toán tiêu

dùng cá nhân với số tiền là 8.980.000 đồng nhưng không thanh toán hết số nợ và các

khoản phí, lãi đúng hạn là vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận, gây thiệt hại

cho Ngân hàng nên cần buộc ông Đ có nghĩa vụ phải thanh toán cho Ngân hàng toàn

bộ số nợ còn thiếu tổng cộng là 19.076.537 đồng ngay khi bản án có hiệu lực pháp

luật.

Số tiền lãi vay và các tiền phí đã được nguyên đơn tính đúng theo thỏa thuận

của hai bên tại hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng phù hợp với quy định tại

khoản 2 Điều 3 và Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 nên yêu cầu của

nguyên đơn về tiền nợ tính đến ngày xét xử và toàn bộ tiền lãi phát sinh tiếp tục tính

đến khi thanh toán xong nợ theo thỏa thuận trong hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ

tín dụng là có cơ sở chấp nhận.

Về án phí: Ông Trần Hải Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tính trên số tiền

phải trả cho Ngân hàng S là 953.826 đồng. Trả lại cho Ngân hàng S số tiền tạm ứng

án phí đã nộp.

Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 tại phiên tòa là phù

hợp với phần nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,

Điều 147, Điều 238, Điều 235, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273, của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự;

- Căn cứ khoản 2 Điều 3, Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban

thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Căn cứ Luật thi hành án dân sự.

Xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S.

1.1. Ông Trần Hải Đ có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ

phần S số tiền nợ theo Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng giữa ông Trần Hải Đ và Ngân hàng Thương mại cổ phần S (gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng do ông Đ ký và Ngân hàng Thương mại cổ phần S xác nhận ngày 12/4/2012 và Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng kèm theo) số tiền là 19.076.537 đồng (mười chín triệu, không trăm bảy mươi sáu nghìn, năm trăm ba mươi bảy đồng) (gồm nợ gốc là 5.602.765 đồng và nợ lãi quá hạn tính đến ngày xét xử là 13.473.772 đồng)

1.2. Việc thanh toán tiền được thực hiện một lần tại cơ quan thi hành án dân sự

có thẩm quyền ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

1.3. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, khách hàng vay còn phải

tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản tiền nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

2. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm là 953.826 đồng (chín trăm năm mươi ba

nghìn, tám trăm hai mươi sáu đồng) do ông Trần Hải Đ chịu. Hoàn lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 397.430 đồng (ba trăm chín mươi bảy ngàn bốn trăm ba mươi đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số AA/2017/0040596 ngày 21/03/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Về quyền kháng cáo: Ngân hàng Thương mại cổ phần S, ông Trần Hải Đ có

quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật

Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự

có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án

hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi

hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật

Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ