- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Y đối với bị đơn ông Lê Long H về việc “Ly hôn”.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 174 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 115/2018/HNGĐ-ST Ngày: 24/10/2018 V/v Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Chung.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Hiệp.
2. Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Thoa – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 623/2018/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 8 năm 2018 về Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 119/2018/QĐST-HNGĐ ngày 14/9/2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 67/2018/QĐST-HNGĐ ngày 04/10/2018, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Y, sinh năm 1973;
Hộ khẩu thường trú: khu phố A, phường B, thành phố C, tỉnh Bình Dương; địa chỉ liên hệ: khu phố D, phường E, thành phố C, tỉnh Bình Dương. (Có đơn xin vắng mặt)
- đơn: Ông Lê Long H, sinh năm 1967;
Địa chỉ: khu phố A, phường B, thành phố C, tỉnh Bình Dương. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 26/7/2018 và quá trình giải quyết, bà Huỳnh Thị Y là nguyên đơn trình bày: Bà Y và ông Lê Long H tự nguyện tìm hiểu và đi đến kết hôn năm 1991, đến năm 1995 cả hai tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, thành phố C, tỉnh Bình Dương. Quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông H ghen tuông, chửi mắng, đánh đập vợ con, đập phá tài sản trong gia đình. Bà Y đã nhiều lần khuyên nhủ ông H với mong muốn xây dựng gia đình hạnh phúc, nhưng ông H không thay đổi. Nay bà Y nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã quá trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Lê Long H. Quá trình chung sống, bà Y và ông H có 02 con chung tên Lê Huỳnh Long D, sinh ngày 29/02/1992 và Lê Huỳnh Kim N, sinh ngày 21/8/1994. Do các con chung đã trưởng thành nên bà Y không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án không tống đạt được các văn bản tố tụng cho bị đơn ông Lê Long H tại nơi cư trú, lý do ông H thường xuyên đi vắng trong giờ hành chính. Tòa án đã thực hiện việc tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập tham gia phiên tòa sơ thẩm cho ông H theo hình thức niêm yết công khai tại nơi cư trú của bị đơn, Ủy ban nhân dân phường B và trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một đúng theo quy định tại Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, ông H không đến Tòa án tham gia tố tụng, không gửi văn bản trình bày ý kiến trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và cũng không có đơn yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn.
Ngày 22/10/2018, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và xác định vẫn giữ yêu cầu ly hôn với ông H, không yêu cầu giải quyết về con chung, tài sản chung, nợ chung.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi khai mạc phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành đúng, đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định. Tính đến ngày Tòa án có quyết định đưa vụ án ra xét xử, vụ án còn trong thời hạn chuẩn bị xét xử theo Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ về quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật và có đơn xin giải quyết vắng mặt. Đối với bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và xét xử nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do là chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ để Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định pháp luật. Kiểm sát viên không kiến nghị khắc phục hay bổ sung gì khác.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử quyết định chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Y về việc ly hôn đối với bị đơn ông Lê Long H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Ngày 22/10/2018, nguyên đơn bà Huỳnh Thị Y có đơn xin giải quyết vắng mặt. Đối với bị đơn ông Lê Long H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ bằng hình thức niêm yết công khai các văn bản tố tụng (gồm Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và Giấy triệu tập tham gia phiên tòa sơ thẩm) tại nơi cư trú của bị đơn, Ủy ban nhân dân phường B và trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một theo quy định tại Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự. Ông H không đến Tòa án tham gia tố tụng, không có ý kiến trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cũng như không có yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại các Điều 227, 228 và 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Y và ông Lê Long H tự nguyện kết hôn năm 1991, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 132, ngày 30/8/1995 của Ủy ban nhân dân phường B, thành phố C, tỉnh Bình Dương là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Nguyên đơn xác định quá trình chung sống, giữa bà Y và ông Lê Long H đã phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể giải quyết được, nguyên nhân là do ông H hay ghen tuông, thường xuyên chửi mắng, đánh đập vợ con, đập phá tài sản trong gia đình. Bà Y đã khuyên nhủ và cho ông H rất nhiều cơ hội để sửa đổi tính tình, nhưng ông H vẫn không thay đổi. Hiện nay, bà Y và ông H không còn chung sống với nhau, tình cảm vợ chồng không có khả năng hàn gắn nên bà Y vẫn giữ yêu cầu được ly hôn với ông H. Về phía bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng nhưng đều vắng mặt không có lý do, đã thể hiện ông H không có thiện chí trong việc muốn hàn gắn và bảo vệ hạnh phúc gia đình.
Xét thấy, mâu thuẫn giữa bà Y và ông H đã đến mức trầm trọng, không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu xin ly hôn của bà Huỳnh Thị Y đối với ông Lê Long H là có căn cứ để chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Quá trình chung sống, bà Y và ông H có 02 con chung tên Lê Huỳnh Long D, sinh ngày 29/02/1992 và Lê Huỳnh Kim N, sinh ngày 21/8/1994. Do cháu D và cháu N đã trên 18 tuổi nên không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tố tụng và quan điểm giải quyết vụ án là có cơ sở.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải nộp theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, các Điều 174, 227, 228, 235, 238, 266 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, Điều 57 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Y đối với bị đơn ông Lê Long H về việc “Ly hôn”.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Y được ly hôn với ông Lê Long H.
- Về con chung: Quá trình chung sống, bà Y và ông H có 02 con chung tên Lê Huỳnh Long D, sinh ngày 29/02/1992 và Lê Huỳnh Kim N, sinh ngày 21/8/1994. Do các con chung đã trên 18 tuổi nên không đặt ra xem xét.
- Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Huỳnh Thị Y phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ hết vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp trước đây theo biên lai thu số AA/2016 - 0022461 ngày 02/8/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một.
3. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nên được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo luật định.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND Tp. Thủ Dầu Một; - Chi cục THADS Tp. Thủ Dầu Một; - UBND phường B; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Ngọc Chung |