- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn chị Tạ Thị T và bị đơn anh Bùi Văn T được ly hôn.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Q TỈNH Đ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 115/2018/HNGĐ-ST Ngày: 20/11/2018 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Q, TỈNH Đ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Xuân Hòa
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Hoa; Bà Nguyễn Thị Liệu.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Thượng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Q.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Q tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Luân - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Đ, xét xử sơ thẩm vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 288/2018/TLST-HNGĐ ngày 07/6/2018 về việc “Xin ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 110/2018/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2018, Quyết định hoãn phiên tòa 86/2018/QĐST-HNGĐ ngày 29/10/2018 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị TẠ THỊ T - sinh năm 1991.
HKTT: Số nhà 25/2, khu dân cư 2, ấp 6, xã P, huyện Q, tỉnh Đ.
Địa chỉ liên lạc: Số 1/1, khu dân cư 1, ấp 5, xã P, huyện Q, tỉnh Đ.
- Bị đơn: Anh BÙI VĂN T - sinh năm 1986.
Địa chỉ: Số nhà 25/2, khu dân cư 2, ấp 6, xã P, huyện Q, tỉnh Đ.
(Chị T có mặt, anh T vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 16/4/2018, bản tự khai ngày 15/6/2018, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, và tại phiên tòa nguyên đơn chị Tạ Thị T trình bày:
Năm 2011, chị và anh Bùi Văn T tìm hiểu, phát sinh tình cảm với nhau. Ngày 28/12/2012, chị và anh T tự nguyện đi đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã P cấp giấy chứng nhận kết hôn số 241, quyển số 01/2012 ngày 28/12/2012.
Sau khi kết hôn, cuộc sống của vợ chồng chị vui vẻ, hạnh phúc đến năm 2015 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh T không chăm lo cùng chị phát triển kinh tế gia đình mà sống dựa vào chị. Khi chị góp ý thì vợ chồng xảy ra cãi nhau, bất đồng mọi quan điểm trong cuộc sống, mâu thuẫn ngày càng gay gắt và trở nên trầm trọng. Mặc dù đã được hai bên gia đình khuyên nhủ, xây dựng hạnh phúc nhưng vợ chồng chị vẫn không thể hòa thuận được. Từ tháng 02/2018, chị và anh T đã tự sống ly thân nhau và không ai còn quan tâm cuộc sống của nhau. Nay tình cảm vợ chồng đã hết, chị không còn khả năng hàn gắn nên yêu cầu Tòa án cho ly hôn mối quan hệ vợ chồng với anh Bùi Văn T.
Chị và anh T không có con chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Vợ chồng chị không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Đối với anh Bùi Văn T: Sau khi Tòa án tiến hành thụ lý vụ án và tiến hành tống đạt Thông báo thụ lý số 288/2018/TLST-HNGĐ ngày 07/6/2018 cho anh T theo quy định của pháp luật nhưng anh Bùi Văn T không có ý kiến trả lời. Tòa án đã triệu tập anh đến Tòa án để làm việc, để tham gia phiên họp kiểm tra việc tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh T không chấp hành triệu tập của Tòa án.
- Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án đã xác định đúng quan hệ pháp luật, tư cách đương sự, thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, đảm bảo thời hạn giải quyết vụ án và giao các văn bản tố tụng đúng quy định của pháp luật.
Về đường lối giải quyết vụ án: Tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh T đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T. Về con chung, tài sản và nợ chung: Không có nên không xem xét giải quyết. Chị T phải chịu án phí hôn nhân nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về thẩm quyền: Bị đơn anh Bùi Văn T cư trú tại số nhà 25/2, khu dân cư 2, ấp 6, xã P, huyện Q, tỉnh Đ nên căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; Tòa án nhân dân huyện Q có thẩm quyền thụ lý giải quyết vụ kiện.
Về tư cách đương sự: Chị Tạ Thị T khởi kiện xin ly hôn với anh Bùi Văn T nên chị T là nguyên đơn, anh T là bị đơn theo quy định tại khoản 2, 3 Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị T khởi kiện yêu cầu ly hôn nên quan hệ pháp luật được xác định là “tranh chấp ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự
Về sự vắng mặt của bị đơn: Bị đơn anh Bùi Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do, căn cứ khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt anh T.
Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Tạ Thị T và anh Bùi Văn T tự nguyện kết hôn; hôn nhân không vi phạm điều cấm của pháp luật nên được công nhận hợp pháp.
Qua kết quả xác minh của Tòa án tại địa phương thể hiện: Trong cuộc sống vợ chồng giữa chị T và anh T đã xảy ra những bất đồng, mâu thuẫn và hai người đã tự chấm dứt cuộc sống chung (BL 33, 34, 35). Tại Điều của 19 Luật Hôn nhân và gia đình có quy định “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình…có nghĩa vụ sống chung với nhau”. Tuy nhiên, kể từ tháng 02/2018 đến nay, chị T và anh T không còn sống chung với nhau, không quan tâm, chăm sóc, không thực hiện quyền nghĩa vụ chung của vợ chồng mà bỏ mặc nhau muốn sống ra sao thì sống.
Tòa án đã nhiều lần mời chị T và anh T đến để hòa giải, hàn gắn tình cảm cho hai người nhưng anh T không chấp hành; điều đó thể hiện anh T không còn mong muốn hàn gắn đoàn tụ. Vì lẽ đó, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định: mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh T đã trầm trọng; cuộc sống chung không còn; mục đích hôn nhân không đạt được. Chị T xin ly hôn với anh T là phù hợp quy định tại Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình; phù hợp với đề nghị của Kiểm sát viên nên được Tòa án chấp nhận.
Về quan hệ con chung: Chị T và anh T không có con chung nên Tòa án không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Do chị T không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.
Về án phí: Chị Tạ Thị T phải chịu 300.000đ tiền án phí theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 68, Điều 147, Điều 228, Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 19, Điều 51, Điều 56, Điều 58 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn chị Tạ Thị T và bị đơn anh Bùi Văn T được ly hôn.
2. Về con chung: không có.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Tòa án không xem xét giải quyết.
4. Về án phí hôn nhân và gia đình: Chị Tạ Thị T phải chịu 300.000 đồng. Chị T đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai số 004985 ngày 07/6/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Q được chuyển thu án phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Chị Tạ Thị T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Bùi Văn T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đ; - VKSND tỉnh Đ; - VKSND huyện Q; - Chi cục THADS huyện Q; - Các đương sự; - UBND xã P; - Lưu. | Lê Xuân Hòa |