- Tranh chấp gì? án hình sự — "TRẦN VĂN T VÀ PHAN VĂN S - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Trần Văn T và Phan Thanh S phạm tội “mua bán trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 33 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ QUỐC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH KIÊN GIANG Bản án số: 115/2017/HSST Ngày: 28/9/2017 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ QUỐC – TỈNH KIÊN GIANG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Ông Trƣơng Quốc Triều
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Dƣơng Tấn Đấu
2/ Ông Nguyễn Phƣớc Lộc
-Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Hà – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Quốc tham gia phiên tòa: Bà Nghiêm Ngọc Phƣơng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Quốc đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 112/2017/HSST ngày 14 tháng 9 năm 2017 đối với các bị cáo:
1/. Họ và tên: Trần Văn T, sinh năm: 1996, tại: P Q, Kiên Giang
Nơi ĐKNKTT: khu phố A, thị trấn A Th, huyện P Q, tỉnh Kiên Giang
Chỗ ở: khu phố A, thị trấn A Th, huyện P Q, tỉnh Kiên Giang
Quốc tịch: Việt Nam
Dân tộc: kinh
Trình độ văn hóa: 9/12
Nghề nghiệp: không
Con ông: Trần Văn T
và bà: Phạm Thị Nh
Vợ: Phan Thị Thu H, sinh năm 1996
Con: 01 người, sinh năm 2016
Tiền án, tiền sự: không
Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/3/2017đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2/. Họ và tên: Phan Thanh S, sinh năm: 1996, tại: P Q, Kiên Giang
Nơi ĐKNKTT: tổ H, khu phố B, thị trấn A Th, huyện P Q, tỉnh Kiên Giang
Chỗ ở: tổ H, khu phố B, thị trấn A Th, huyện P Q, tỉnh Kiên Giang
Quốc tịch: Việt Nam
Dân tộc: kinh
Trình độ văn hóa: 10/12
Nghề nghiệp: không
Con ông: Phan Thanh T
và bà: Lê Thị B
Tiền án, tiền sự: không
Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/5/2017 đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào tháng 02/2017 Trần Văn T gọi điện thoại cho một người tên Th (không rõ nhân thân) sống tại thành phố Hồ Chí Minh để hỏi mua ma túy với giá 7.000.000đ. Đến ngày 03/3/2017 Th điện thoại thông báo ma túy đã gửi về P Q qua chành xe B L, T đến nhận mang về nhà tại khu phố H, thị trấn A Th, huyện P Q lấy một ít ra để sử dụng, còn lại T cất giấu để bán cho các con nghiện. Đến khoảng 12 giờ 00 phút ngày 04/3/2017 do mâu thuẫn với nhau, T dùng con dao tự chế đe dọa chém người thanh niên tên Tèo nên Công an thị trấn A Th đến kiểm tra nhà ở của T tại khu phố H, thị trấn A Th thì phát hiện bịch ma túy và hai cây dao tự chế mà T cất giấu dưới gầm bàn ghế đá sát vách tường nhà của Tây.
Trong quá trình điều tra Trần Văn T khai nhận ngày 27/02/2017 Phan Thanh S đến gặp và giới thiệu NguyễnVăn Ph ở khu phố T, thị trấn A Th cho T để mua ma túy . Do Th chưa gử i ma túy cho T nên vào ngày 28/02/2017 và 01/3/2017 T đã gọi điện thoại mua ma túy của Nguyễn Văn Ph hai lần, mỗi lần 10 bịch với số tiền 5.500.000đ, nhưng người đi giao ma túy và lấy tiền là Phan Thanh S. Khi S giao ma túy cho T vào ngày 01/3/2017 thì T lấy 03 bịch ra sử dụng cùng với S, số còn lại T bán cho Trần Văn L 02 lần 02 bịch ma túy được 800.000đ.
Ngoài ra, Trần Văn T còn khai nhận vào đầu tháng 01/2017 T còn bán ma túy cho Lê Anh Nh và Phạm Thanh Q 04 lần, nhưng T bán dùm cho Th (không rõ nhân thân) sống tại thành phố Hồ Chí Minh với giá 1.600.000đ. Tuy nhiên T không giao ma túy trực tiếp cho Nh và Q mà chỉ lấy tiền của Nh và Q đưa cho Th.
Bị cáo Trần Văn T và Phan Thanh S tại phiên tòa thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Vật chứng thu giữ: 01 bịch ny lon màu trắng có chiều rộng khoảng 08 cm, chiều dài khoảng 15 cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn, màu trắng không đồng nhất; 01 cây dao tự chế có cán hinh tròn làm bằng sắt , cán dài khoảng 15
̀
cm, lưỡi dài khoảng 40 cm; 01 cây dao tự chế có cán hinh tròn làm bằng sắt, cán
̀ dài khoảng 15 cm, lưỡi dài khoảng 35 cm; 01 điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng hiê ̣u Nokia , màu xanh đen số IMEL: 356879072176990, đa qua sữ
̉ du ̣ng.
Tại bản kết luận giám định số 129/KL-KTHS ngày 09/3/2017 của phòng kỹ thuâ ̣t hinh sự Công an tinh Kiên Giang , kết luâ ̣̉
n: các hạt tinh thể rắn , màu trắng
̀ không đồng nhất chứ a trong mô ̣t bi ̣ch nylon được niêm phong gử i giám đi ̣nh là chất ma túy, loại Methamphetamine. Trọng lượng 35,5093 gam.
Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo T không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định số 129/KL-KTHS ngày 9/3/2017 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang.
Tại bản cáo trạng số: 113/KSĐT-MT ngày 13 tháng 9 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện P Q đã truy tố bi ̣ cáo TrầnVăn T và Phan Thanh S về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 194 BLHS.
Tại phiên toà Kiểm sát viên tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trần Văn T và Phan Thanh S về tội “mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 194 BLHS.
Đề nghị HĐXX áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194 BLHS; điểm p, o khoản 1 Điều 46 BLHS; Điều 47; Điều 33 BLHS, xử phạt bị cáo Trần Văn T từ 06 đến 07 năm tù.
Đề nghị HĐXX áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194 BLHS; điểm p, o khoản 1 Điều 46 BLHS; Điều 47 BLHS; Điều 33 BLHS, xử phạt bị cáo Phan Thanh S từ 04 đến 05 năm tù.
Về tang vật: áp dụng khoản 1 Điều 41 BLHS, khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy: 34,3277 gam Methamphetamine còn lại sau giám định; 01 cây dao tự chế có cán hinh tròn làm
̀ bằng sắt, cán dài khoảng 15 cm, lưỡi dài khoảng 40 cm; 01 cây dao tự chế có cán hinh tròn làm bằng sắt, cán dài khoảng 15 cm, lưỡi dài khoảng 35 cm.
̀
Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 ĐTDĐ hiê ̣u Nokia, màu xanh đen, số Imel: 35687907276990, đa qua sữ
̉ du ̣ng.
Buô ̣c bi ̣ cáo Trần Văn T nô ̣p la ̣i 800.000đ tiền thu lợi bấ t chinh để sung
́ quỹ Nhà nước.
Đối với Nguyễn Văn Ph đã phạm tội mua bán trái phép chất ma túy nhưng đã bỏ trốn, khi nào bắt được xử lý sau.
Đối với một người tên Th ở thành phố Hồ Chí Minh , Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyê ̣n P Q đang tiếp tu ̣c điều tra xác minh là rõ xử lý sau.
Tại phiên tòa bi ̣ cáo Trần Văn T và Phan Thanh S không có ý kiến gì đối với quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện P Q.
Lời nói sau cùng của bị cáo T và S xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định truy tố của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện P Q trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Tại phiên tòa bị cáo Trần Văn T khai nhâ ̣n như sau: Do có nhu cầu sử du ̣ng ma túy và bán cho các con nghiện nên vào tháng 2/2017 Trần Văn T đa liên la ̣̃
c vớ i Th ở thành phố Hồ Chí Minh để mua 7.000.000đ ma túy. Vào ngày 3/3/2017 thì ma túy được Th gử i về P Q qua chành xe B L tại thị trấn A Th, T đến lấy và mang về nhà lấy mô ̣t it ra sử du ̣ng còn la ̣i cất giấu dướ i gầm ghế đá trướ c nhà T .
́ Đến 12 giờ 30 phút ngày 04/3/2017 Công an thi ̣ trấn A Th kiểm tra nhà của T phát hiện 01 bịch ma túý, qua giám định của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang đó là chất ma túy, loại Methamphetamine, trọng lượng 35,5093 gam.
Cũng trong thời gian tháng 2/2017 Phan Thanh S giới thiệu Nguyễn Văn Ph sinh năm 1983 ở khu phố D, thị trấn A Th cho T mua ma túy. Do Th chưa gửi ma túy cho T nên T đã mua ma túy của Ph hai lần hai mươi bịch ma túy vào ngày 28/02/2017 và ngày 01/3/2017 với số tiền 5.500.000 đồng nhưng người đi giao ma túy và lấy tiền là Phan Thanh S, S lấy tiền về đưa cho Ph. Khi S giao ma túy cho T vào ngày 01/3/2017 thì T lấy 03 bịch ra sử dụng cùng với S, số còn lại T bán cho Trần Văn L 02 lần 02 bịch ma túy được 800.000đ.
Bị cáo Phan Thanh S thừa nhận lời khai của bị cáo Trần Văn T là đúng.
Trước đó, vào đầu tháng 01/2017 Tây đã bán ma túy cho Lê Anh Nh và Phạm Minh Q 04 lần, được số tiền 1.600.000đ, tuy nhiên nguồn gốc số ma túy là của Th, T cũng không trực tiếp giao ma túy cho Nh và Q mà chỉ lấy tiền đưa về cho Th.
Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Quốc truy tố.
Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Với các tình tiết đã được chứng minh tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Trần Văn T và Phan Thanh S đã phạm vào tội “mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 194 BLHS.
Các bị cáo đều là những thanh niên đã trưởng thành nên có đầy đủ khả năng nhận thức hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì vụ lợi muốn có tiền và ma túy để sử dụng mà các bị cáo bất chấp pháp luật cố tình thực hiện hành vi phạm tội.
Hành vi của các bị cáo thể hiện ý thức xem thường pháp luật, vi phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà Nước về ma túy và các chất gây nghiện, xâm phạm trật tự an toàn xã hội tại địa phương, đây cũng là một trong những nguyên nhân gây ra những tệ nạn xã hội, nhiều căn bệnh hiểm nghèo, tạo gánh nặng cho xã hội. Do đó, Hội đồng xét xử phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục đối với các bị cáo, cũng tạo điều kiện để các bị cáo cai nghiện từ bỏ ma túy làm lại cuộc đời và cũng phòng ngừa chung cho xã hội, nhất là trong giai đoạn hiện nay cùng với sự phát triển của xã hội thì tình hình tội phạm về ma túy trên địa bàn huyện P Q diễn ra ngày càng nhiều, thủ đoạn ngày càng tinh vi để lại nhiều hậu quả nặng nề gây nhiều bức xúc trong nhân dân và xã hội.
Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy tại phiên tòa cũng như tại cơ quan điều tra các bị cáo thật thà thai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo đã tự thú về hành vi mua bán ma túy với cơ quan cảnh sát điều tra; hai bị cáo đều có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự gì. Đây là tình tiết giảm nhẹ hình phạt được quy định tại điểm p, o khoản 1 và 2 Điều 46 BLHS. Hội đồng xét xử xem xét khi lượng hình cho các bị cáo, cũng như chấp nhận lời đề nghị của Vị đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện P Q.
Về tang vật: cần tuyên tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định; 01 cây dao tự chế có cán hinh tròn làm bằng sắt , cán dài khoảng 15 cm, lưỡi dài
̀ khoảng 40 cm; 01 cây dao tự chế có cán hinh tròn làm bằng sắt , cán dài khoảng
̀
15 cm, lưỡi dài khoảng 35 cm.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 ĐTDĐ hiê ̣u Nokia, màu xanh đen, số Imel: 35687907276990, đa qua sữ
̉ du ̣ng.
Buô ̣c Trần Văn T nô ̣p la ̣i 800.000đ tiền thu lợi bất chính để sung quỹ Nhà nướ c.
Về án phí: các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: bị cáo Trần Văn T và Phan Thanh S phạm tội “mua bán trái phép chất ma túy”
2. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194 BLHS; điểm p, o khoản 1 và 2 Điều 46 BLHS; Điều 47 BLHS và Điều 33 BLHS.
Xử phạt: Trần Văn T 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 04/3/2017.
Xử phạt: Phan Thanh S 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 15/5/2017.
3. Về tang vật: áp dụng khoản 1 Điều 41 BLHS, khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy: 34,3277 gam Methamphetamine còn lại sau giám định; 01 cây dao tự chế có cán hi nh tròn làm bằng sắt , cán dài khoảng 15
̀
cm, lưỡi dài khoảng 40 cm; 01 cây dao tự chế có cán hinh tròn làm bằng sắt, cán
̀ dài khoảng 15 cm, lưỡi dài khoảng 35 cm.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 ĐTDĐ hiê ̣u Nokia, màu xanh đen, số Imel: 35687907276990, đa qua sữ
̉ du ̣ng.
Buô ̣c bi ̣ cáo Trần Văn T nô ̣p la ̣i 800.000đ tiền thu lợi bất chinh để sung
́ quỹ Nhà nước.
(Tang vật trên đã được chuyển giao cho Chi cục thi hành án Dân sự huyện P Q theo biên bản giao nhận ngày 23/8/2017)
4. Về án phí: mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai báo cho các bị cáo biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - Sở Tư pháp tỉnh Kiên Giang; -VKSND huyện Phú Quốc; - Nhà tạm giữ huyện Phú Quốc; - THA huyện Phú Quốc; - Đội tổng hợp CA huyện PQ; - Các bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Trƣơng Quốc Triều |