| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM KHU VỰC 4 – CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 114 /2026/HSST Ngày: 13 - 7 - 2026 NHÂN DANH |
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Kiệt
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Thái Ánh Trinh
2. Bà Lê Thị Xuân Hiền
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huỳnh Như –Thư ký Toà án nhân dân
Khu vực 4 - Cần Thơ.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Cần Thơ tham gia phiên toà:
Ông Lê Văn Ly - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 7 năm 2026, tại tru sơ Toa án nhân dân khu vực 4 - Cần Thơ tiên hành xét xử sơ thẩm công khai vu án hình sự thu lý số: 116/2026/HSST ngày 26 tháng 6 năm 2026, theo Quyêt định đưa vu án ra xét xử số: 723/2026/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 6 năm 2026, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Khắc An K; tên gọi khác: không; Giới tính: nam. Sinh năm 1990. Nơi sinh: thành phố Cần Thơ. Nơi cư trú: khu vực T, phường T, thành phố Cần Thơ. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không. Đảng, đoàn thể: Không. Trình độ học vấn: 10/12. Nghề nghiệp: lao động tự do (làm thuê). Con ông: Nguyễn Khắc B - Sinh năm 1968 (sống); con bà: Trần Thị C - Sinh năm 1967 (chêt). Vợ: Phạm Thị Kim C1 - Sinh năm 1997 (sống). Con: có 02 người, lớn sinh năm 2020, nhỏ sinh năn 2025. Tiền án, tiền sự: không.
- Nhân thân:
+ Ngày 06/02/2017, bị Toà án nhân dân huyện Cờ Đỏ - thành phố Cần Thơ ra Quyêt định áp dung biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sơ cai nghiện bắt buộc thời hạn 01 năm 09 tháng.
+ Ngày 06/9/2017, bị Toà án nhân dân quận Thốt Nốt – thành phố Cần Thơ xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
+ Ngày 05/8/2021, Ủy ban nhân dân xã T ra Quyêt định áp dung biện pháp giáo duc tại xã, phường, thị trấn thời hạn 03 tháng về hành vi sử dung trái phép chất ma tuý.
+ Năm 2025, sử dung trái phép chất ma tuý, bị Ủy ban nhân dân phường T, thành phố Cần Thơ ra Quyêt định quản lý người sử dung trái phép chất ma tuý theo Quyêt định số 90/QĐ-UBND ngày 01/8/2025 của Ủy ban nhân dân phường T – thành phố Cần Thơ.
- Bị bắt tạm giam từ ngày 11/01/2026 đên nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại Tạm giam số 1 - Công an thành phố C. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Chị Phạm Thị Kim C1 – sinh năm 1997. Vắng mặt
Cư trú: Ấp E, xã T, thành phố Cần Thơ.
+ Bà Lâm Nguyệt H – sinh năm 1971. Có mặt
Cư trú: Số E, C, P. B, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VU ÁN:
Qua các tài liêu có trong hô sơ vụ án và quá trinh xet hoi, tranh luân tại phiên toa, nội dung vụ án được tóm tăt như sau:
Tiêp nhận tin báo của người dân về việc Nguyễn Khắc An K có biểu hiện tàng trữ trái phép chất ma tuý. Vào lúc khoảng 11 giờ 10 phút, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C tiên hành khám xét khẩn cấp người và phương tiện đối với Nguyễn Khắc An K tại ấp V, xã V, thành phố Cần Thơ. Tang vật thu giữ gồm: 03 gói ny lon không màu, hàn kín, bên trong chứa tinh thể không màu (trong túi quần jean bên phải của K); 01 ống kim tiêm đã qua sử dung (trong túi quần jean bên trái của K); 01 xe mô tô biển kiểm soát 65F1- 142.81. Cơ quan điều tra tiên hành test chất ma tuý trong cơ thể của K cho kêt quả dương tính với ma tuý; đồng thời tiên hành thu mẫu nước tiểu của K để trưng cầu giám định.
Tại Kêt luận giám định số 157/KL-KTHS ngày 16/01/2026 của Phong K1 Công an thành phố C kêt luận: mẫu gửi giám định là ma tuý, loại Methamphetamine.
Tại Kêt luận giám định số 157/KL-KTHS ngày 16/01/2026 của Phong K1 Công an thành phố C kêt luận: mẫu gửi giám định là ma tuý, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,2883 gam.
Quá trình điều tra xác định: Vào khoảng 07 giờ ngày 11/01/2026, Nguyễn Khắc An K điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 65F1-142.81 đi từ nhà tại ấp T, phường T, thành phố Cần Thơ đên khu vực cầu C thuộc phường M, tỉnh An Giang để mua ma tuý sử dung. K gặp một người phu nữ (K không rõ họ tên, địa chỉ) mua 01 gói ma tuý với số tiền 300.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý, K để ma tuý vào túi quần phía trước bên phải và điều khiển xe về bãi đất trống tại Kênh A thuộc ấp V, xã V, thành phố Cần Thơ để sử dung bằng hình thức tiêm vào cơ thể. Sau khi sử dung xong, số ma tuý con lại K chia thành 03 gói nhỏ cất giữ trong túi quần phía trước bên phải muc đích để sử dung dần và K điều khiển xe về nhà. Khi đên đường H thuộc ấp V, xã V, thành phố Cần Thơ thì bị Cơ quan điều tra khám xét thu giữ tang vật. Tại Cáo trạng số 137/CT-VKSKV4 ngày 25/6/2026, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Cần Thơ, truy tố Nguyễn Khắc An K về tội "Tàng trữ trái phep chất ma tuý" theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, năm 2025.
Tại phiên toa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố. Kiểm sát viên thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị:
- Về trách nhiêm hinh sự: Áp dung: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Khắc An K từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng đên 04 (bốn) năm tù.
Hình phạt bổ sung: Không áp dung.
- Về xư lý vât chưng:
Tịch thu tiêu huỷ: 01 gói niêm phong số 158/KL.KTHS ngày 16/01/2026 có đóng dấu của Phong K1 - Công an thành phố C, bên trong có chất ma tuý; và 01 kim tiêm đã qua sử dung.
Đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát 65F1-142.81, số khung VBSPCH0021X008902, số máy LC152FMH01427502, qua xác minh và lấy lời khai thì người đứng tên giấy đăng ký xe là bà Trần Thị Kim X, con thân xe có số khung, số máy là do bà Lâm Nguyệt H đứng tên chủ sơ hữu. Tuy nhiên bà X không có mặt ơ địa phương nên chưa tiên hành làm việc được, con bà H cho rằng đã bán xe nhiều năm rồi nhưng không có giấy tờ mua bán và không có yêu cầu gì đối với xe này. Cơ quan điều tra đã ra Thông báo truy tìm chủ sơ hữu nhưng không có ai liên hệ. Đây là phương tiện bị cáo sử dung đi phạm tội, nên đề nghị tịch thu sung ngân sách nhà nước chiêc xe mô tô, con biển kiểm soát 65F1-142.81 giao cơ quan Cảnh sát giao thông - Công an thành phố C xử lý theo quy định.
* Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHÂN ĐINH CỦA HỘI ĐÔNG XET XƯ:
Trên cơ sơ nội dung vu án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vu án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyêt định tố tung của Cơ quan điều, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tuc quy định của Bộ luật Tố tung hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toa không có người nào khiêu nại về hành vi, quyêt định của Cơ quan tiên hành tố tung, người tiên hành tố tung. Do đó, các hành vi, quyêt định tố tung của Cơ quan tiên hành tố tung, người tiên hành tố tung đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Trong điều tra và tại phiên toa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác được thu thập trong quá trình điều tra.
Như vậy, có cơ sơ xác định vào 11/01/2026, Nguyễn Khắc An K có hành vi cất giữ ma tuý mua được của người khác đem về với muc đích để sử dung. Số lượng ma tuý mà bị cáo tàng trữ được tiên hành giám định có khối lượng là 0,2883 gam, loại Methamphetamine. Hành vi mà bị cáo thực hiện đã trực tiêp xâm phạm đên chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Bị cáo là người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiêp. Do đó, việc truy tố, xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phep chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, năm 2025 là đúng người, đúng tội.
[3] Xét thấy, tình hình tội phạm về ma tuý ngày càng diễn biên phức tạp, đối tượng phạm tội và sử dung ma tuý phổ biên ơ nhiều thành phần, độ tuổi. Hậu quả từ việc sử dung trái phép chất ma tuý gây ra là rất nguy hiểm đối với xã hội, không những có tác hại đên sức khoẻ, người nghiện ma tuý con dễ lâm vào ảo giác, làm nhiều hành động nguy hiểm cho người khác. Nhân thân bị cáo từng nhiều lần sử dung trái phép chất ma tuý, từng bị áp dung biện pháp đưa vào cơ sơ cai nghiện bắt buộc, từng bị kêt án về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý nhưng sau khi chấp hành xong về địa phương vẫn không biêt sửa đổi để tiên bộ, vẫn tiêp tuc lao vào sử dung ma tuý bất chấp pháp luật ngăn cấm và xử lý. Do đó, cần phải xử phạt nghiêm minh và hình phạt lần phạm tội này phải cao hơn lần trước để đảm bảo tính răn đe, giáo duc, cải tạo bị cáo. Khi lượng hình, xét thấy bị cáo có sự thành khẩn khai báo, bị cáo mắc bệnh hiểm nghèo, hoàn cảnh gặp khó khăn; nên cho bị cáo được hương tình tiêt giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[4] Về hình phạt bổ sung: Không áp dung hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về xử lý vật chứng: Như nhận định và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên chấp nhận.
[6] Về một số vấn đề khác: Đối với người phu nữ mà bị cáo khai đã bán ma tuý cho bị cáo được 02 lần, do không xác định được họ tên, địa chỉ nên kiên nghị Cơ quan điều tra tiêp tuc làm rõ để xử lý theo quy định pháp luật. Đối với hành vi sử dung trái phép chất ma tuý ngày 11/01/2026 của bị cáo đã bị Công an xã V – thành phố Cần Thơ ra Quyêt định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền phạt 2.000.000 đồng. [7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (hai trăm ngàn đông).
Vì các lẽ trên, Hội đồng xét xử;
QUYẾT ĐINH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Khắc An K phạm tội “Tàng trữ trái phep chất ma túy”.
1. Về trách nhiệm hình sự:
Áp dung: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, năm 2025;
+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Khắc An K 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/01/2026.
+ Hình phạt bổ sung: Không áp dung.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dung Điều 41 của Bộ luật Hình sự; Điều 176 của Bộ luật Tố tung hình sự;
+ Tịch thu tiêu huỷ: 01 gói niêm phong số 158/KL.KTHS ngày 16/01/2026 có đóng dấu của Phong K1 - Công an thành phố C, bên trong có chất ma tuý; và 01 kim tiêm đã qua sử dung.
+ Tịch thu sung ngân sách nhà nước đối với 01 xe mô tô có số khung VBSPCH0021X008902, số máy LC152FMH01427502, đã qua sử dung. Riêng biển kiểm soát 65F1-142.81 giao Phong C2 – Công an thành phố C xử lý theo quy định pháp luật.
3. Về án phí: Áp dung Điều 136 của Bộ luật Tố tung hình sự năm 2015; Nghị quyêt số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016;
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm ngàn đông).
4. Về kháng cáo: Áp dung Điều 331, 333 Bộ luật Tố tung hình sự năm 2015;
Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên toa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yêt theo quy định pháp luật.
TM. HỘI ĐÔNG XET XƯ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND TP . Cần Thơ; - VKSND TP . Cần Thơ; - THADS TP . Cần Thơ; - VKSND Khu vực 4; - CATP.Cần Thơ (HSNV); - Bị cáo; bị hại; - Lưu hồ sơ. Nguyễn Văn Kiệt | Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà |