- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Hữu T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Trần Hữu T1 phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 114/2025/HS-ST Ngày: 24/6/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH,TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Phạm Thị Tường Vy
Các Hội thẩm nhân dân: bà Lương Thị Bảo Thùy và bà Nguyễn Thị Kim Phương.
- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Phú Khang, Thư ký TAND thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện VKS nhân dân thành phố L, tỉnh Đồng Nai, tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thạch T - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 94/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 5 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 115/2025/QĐXXST-HS ngày 05/6/2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Hữu T1; Tên gọi khác: Không.
Giới tính: N; Sinh năm: 1996; Nơi sinh: Đồng Nai.
Nơi cư trú: tổ A, khu phố B, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
Quốc tịch: Việt Nam: Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.
Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: không biết chữ.
Họ tên cha: Trần Hữu H; Sinh năm: 1963 (còn sống).
Họ tên mẹ: Nguyễn Thị H1; Sinh năm: 1964 (còn sống).
Anh, chị, em ruột: Gia đình bị cáo có 02 anh, em; bị cáo là con lớn nhất trong gia đình.
Vợ, con: Chưa có.
Tiền án:
- Ngày 08/12/2017, bị Tòa án nhân dân thị xã Long Khánh (nay là thành phố L), tỉnh Đồng Nai xử phạt 02 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Chấp hành xong ngày 27/02/2018. Hiện chưa đóng 1.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm và 20.000.000 đồng bồi thường dân sự.
Ngày 19/5/2023, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong ngày 11/10/2023.
Tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 24/7/2015, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Bình Thuận khởi tố vụ án, khởi tố bị can về tội “Trộm cắp tài sản”. Đến ngày 22/5/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Bình Thuận ra Quyết định đình chỉ điều tra vụ án hình sự đối với bị can.
Bị cáo Trần Hữu T1 bị bắt giữ từ ngày 13/01/2025 và tạm giam cho đến nay.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
* Người đại diện theo pháp luật của bị cáo: ông Trần Hữu H, sinh năm
1963 và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm: 1964; cùng địa chỉ: khu phố B, p. X, tp ., tỉnh Đồng Nai. (Có mặt)
* Người bào chữa cho bị cáo: bà Nguyễn Thị L, sinh năm: 1987; Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đ. (Có mặt)
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Đình K, sinh năm: 1990; địa chỉ: tổ B, khu phố T, phường B, tp ., tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)
- Anh Nguyễn Thanh H2, sinh năm: 1998; địa chỉ: khu phố Phú Mỹ, tp.
Xuân Lập, tp. Long Khánh, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)
* Người chứng kiến: anh Trần Văn H3, sinh năm: 1995; địa chỉ: khu phố T, thị trấn D, huyện T, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Hữu T1 là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2021, Khoảng 21 giờ 30 ngày 13/01/2025, T1 điều khiển xe mô tô hiệu Honda Blade, màu xanh đen, biển số 60B2-764.11 đến nhà anh Nguyễn Đình K, sinh năm 1990, ngụ tại tổ D, khu phố T, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai chơi. Khi T1 đi ra phía sau khu vực nuôi gà của anh K thì nhặt được 01 gói ma túy đá (không rõ của ai) ở dưới đất, T1 bỏ vào túi quần cất giấu. Đến khoảng 22 giờ 15 phút cùng ngày, khi T1 đang trên đường từ nhà anh K đi về nhà, đến đoạn cầu B, thuộc khu phố T, phường B, Công an phường B dừng xe kiểm tra, phát hiện trong túi quần bên phải T1 đang mặc trên người có 01 gói ma túy đá. Công an tiến hành niêm phong tang vật và đưa T1 về làm việc.
Tại Bản kết luận giám định số 134/KL-KTHS ngày 21/01/2025, Phòng K1 Công anh tỉnh Đồng Nai kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,1304 gam, loại: Methamphetamine.
Vật chứng thu giữ và xử lý:
- Số ma túy thu giữ sau giám định được niêm phong trong 01 phong bì số 134/KL-KTHS ngày 21/01/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy, hiện đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Khánh theo quy định pháp luật.
- 01 xe mô tô hiệu Honda Blade, màu xanh đen, biển số 60B2-764.11, quá trình điều tra xác định anh Nguyễn Thanh H2, sinh năm 1998, ngụ tại khu phố P, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai là chủ sở hữu hợp pháp chiếc xe trên, anh H2 không biết T1 mượn xe để thực hiện hành vi phạm tội, hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã trả lại xe cho anh H2.
Tại bản cáo trạng số: 100/CT-VKS ngày 09/5/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh đã truy tố bị cáo Trần Hữu Tèo về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Hữu T1 phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Và đề nghị áp dụng điểm o khoản 2 Điều 2, điểm s, q, p khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt: Bị cáo Trần Hữu T1 từ 05 (năm) năm đến 06 (sáu) năm tù.
* Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Thống nhất với quan điểm luận tội của Viện kiểm sát về tội danh, khung hình phạt và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp đối với bị cáo. Bị cáo là người khuyết tật, có hoàn cảnh gia đình khó khăn, cha của bị cáo cũng là người khuyết tật (mất 2 chân), gia đình bị cáo có người có công với cách mạng. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ hơn mức đề xuất hình phạt của đại diện Viện kiểm sát.
* Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo hối hận về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo hứa sẽ không tái phạm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi cấu thành tội phạm: Vào khoảng 22 giờ 15 phút ngày 13/01/2025, tại khu vực cầu B, thuộc đường số B, khu phố T, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai, Công an phường B, thành phố L bắt quả tang Trần Hữu T1 có hành vi tàng trữ 01 gói ma túy. Gói ma túy trên được niêm phong, gửi giám định và theo Bản kết luận giám định số 134/KL-KTHS ngày 21/01/2025, Phòng K1 Công anh tỉnh Đồng Nai kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,1304 gam, loại: Methamphetamine.
Bị cáo Trần Hữu T1 có 02 tiền án về tội “Cố ý gây thương tích” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Đây là tình tiết định khung hình phạt được quy định điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với kết luận giám định và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Với những chứng cứ trên, đã có đủ cơ sở kết luận: Cáo trạng của VKSND tp. Long Khánh, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Trần Hữu T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 BLHS là phù hợp với quy định của pháp luật.
Tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo thể hiện mức độ nguy hiểm đáng kể đối với xã hội. Bị cáo mặc dù có thời điểm bị rối loạn nhân cách và chậm phát triển tâm thần mức độ trung bình nhưng đã được điều trị và có Kết luận số 839/KLBB-VPYTW ngày 27/12/2022, kết luận: hiện tại bệnh đã ổn định, không cần thiết điều trị bắt buộc nữa. Đương sự có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi để làm việc với cơ quan pháp luật. Như vậy, bị cáo hoàn toàn có thể nhận thức được tác hại của ma túy và các quy định của pháp luật về cấm thực hiện các hành vi liên quan đến việc sử dụng, tàng trữ, mua bán, sản xuất trái phép chất ma túy. Nhưng vì muốn thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân, bị cáo đã cất giấu ma túy để sử dụng, đó cũng là lý do đưa bị cáo rơi vào con đường phạm tội.
Để đưa ra mức hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo, HĐXX cần xem xét toàn bộ các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo như sau:
- Về các tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về các tình tiết giảm nhẹ: quá trình Điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải; bị cáo là người khuyết tật nặng đang được hưởng chính sách hỗ trợ cho người khuyết tật của địa phương; bị cáo là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình; gia đình bị cáo có người có tham gia kháng chiến, có công với cách mạng. Các tình tiết trên quy định tại điểm s, p, q khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Với nhận định trên, để răn đe và phòng ngừa chung tội phạm về ma túy; đồng thời để cải tạo, giáo dục các bị cáo thành một công dân tốt, có ích cho xã hội, nên cần giam giữ bị cáo tại cơ sở giam giữ trong một thời gian nhất định.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tp. Long Khánh trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật TTHS. Qua quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ sau giám định được niêm phong trong 01 phong bì số 134/KL-KTHS ngày 21/01/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ.
- 01 xe mô tô hiệu Honda Blade, màu xanh đen, biển số 60B2-764.11, quá trình điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Thanh H2 đúng quy định nên không đặt ra xem xét.
Về án phí: Bị cáo T1 phải nộp 200.000đ án phí HSST.
Xét quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh và của Người bào chữa cho bị cáo là phù hợp với nhận định nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: bị cáo Trần Hữu T1 phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ theo điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s, p, q khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 ( sửa đổi bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo Trần Hữu T1: 05 (năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/01/2025.
- Về vật chứng: căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu, tiêu hủy số ma túy thu giữ sau giám định được niêm phong trong 01 phong bì số 134/KL-KTHS ngày 21/01/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/5/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai).
- Về án phí: Căn cứ Điều 135 BLTTHS 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo T1 phải nộp 200.000 đồng án phí HSST.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - VKSND tp. Long Khánh; - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh; - Cơ quan Thi hành án HS Công an tỉnh; - Chi cục THADS tp. Long Khánh; - Bị cáo; - Lưu HS, AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phạm Thị Tường Vy |