vanban.org

Bản án 114/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Hoãn phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 175/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 3 năm 2017.

Thời gian, địa điểm mở lại phiên toà xét xử vụ án được ấn định như sau: Phiên toà dân sự sơ thẩm sẽ được mở lại vào hồi 07 giờ 30 phút ngày 14 tháng 4 năm 2017 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam. Địa chỉ: Thị trấn Phú Thịnh, huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Hoãn phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 175/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 3 năm 2017.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7- ĐÀ N

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 114/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 25- 9 -2025
V/v: Ly hôn, tranh chấp về
nuôi con khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7- ĐÀ N

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Đinh Văn Long

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Đào

Ông Trương Văn Tiên

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 7-Đà N.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7- Đà N tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hường - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 7- Đà N xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 06/2025/TLST- HNGĐ ngày 09 tháng 7 năm 2025 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 26 tháng 8 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Võ Thị Kim H, sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn Trung Đàn, xã Phú Ninh, thành phố Đà N. Vắng mặt.

Bị đơn: Anh Nguyễn B, sinh năm 1980; địa chỉ: Thôn Trung Đàn, xã Phú Ninh, thành phố Đà N. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các lời khai tiếp theo và tại phiên tòa nguyên đơn chị Võ Thị Kim H trình bày:

Chị H và anh B tự nguyện tìm hiểu, xây dựng gia đình, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Tam Thái, huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam vào năm 2002. Trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống. Nguyên nhân mâu thuẫn là do chồng uống rượu về chửi bới, xúc phạm vợ và đánh đập vợ. Chị H đã chịu đựng và bỏ qua nhiều lần nhưng anh B vẫn chứng nào tật nấy. Nay chị H thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho Chị được ly hôn với anh Nguyễn B.

Về nuôi con chung: Vợ chồng chị H có 03 con chung, tên là Nguyễn Võ Văn Y, sinh năm 2002; Nguyễn Văn T, sinh năm 2006 và Nguyễn Thị Bích Q, sinh ngày 01/9/2009. Hiện nay cháu Yên và cháu Tín đã thành niên nên chị H không có yêu cầu gì. Khi ly hôn, chị H có nguyện vọng được nuôi cháu Nguyễn Thị Bích Q cho đến khi thành niên, yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi cháu Quyên mỗi tháng 2.000.000 đồng.

Về chia tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

- Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa. Tuy nhiên, ông Nguyễn B không đến Tòa án làm việc, cố tình trốn tránh nên không thể tiến hành lấy lời khai của ông Nguyễn B. Vì vậy, Tòa án tiến hành giải quyết vụ án theo các tài liệu, chứng cứ thu thập được.

- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân Khu vực 7- Đà N phát biểu ý kiến:

+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử là đúng pháp luật; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của bị đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là không đúng theo quy định pháp luật.

+ Về quan điểm giải quyết vụ án như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Võ Thị Kim H.

Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 58, 81, 82, 83, 110, 116, 117 Luật hôn nhân gia đình giao cháu là Nguyễn Thị Bích Q, sinh ngày 01/9/2009 cho chị Võ Thị Kim H chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi. Anh Nguyễn B cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định.

Đối với tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Chị Võ Thị Kim H khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung nên xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn anh Nguyễn B có nơi cư trú tại thôn Trung Đàn, xã Phú Ninh, thành phố Đà N nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 7-Đà N theo quy định tại Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025).

Nguyên đơn chị Võ Thị Kim H vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt. Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án, nhưng bị đơn anh Nguyễn B vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh B kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Tam Thái, huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam, là hôn nhân hợp pháp. Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống. Nguyên nhân mâu thuẫn là anh B uống rượu về chửi bới, xúc phạm vợ và đánh đập vợ. Chị H đã chịu đựng và bỏ qua nhiều lần nhưng anh B vẫn chứng nào tật nấy. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh B không tham gia tố tụng, không trình bày ý kiến, không tham gia phiên tòa nên không có thiện chí hàn gắn quan hệ vợ chồng. Hiện nay, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc nhau, tình cảm vợ chồng không còn; hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị Kim H, cho chị H được ly hôn với anh Nguyễn B.

- Về con chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, chị H trình bày chị và anh B có 03 con chung, tên là Nguyễn Võ Văn Y, sinh năm 2002; Nguyễn Văn T, sinh năm 2006 và Nguyễn Thị Bích Q, sinh ngày 01/9/2009. Hiện nay cháu Yên và cháu Tín đã thành niên nên chị H không có yêu cầu gì. Khi ly hôn, chị H có nguyện vọng được nuôi cháu Nguyễn Thị Bích Q cho đến khi thành niên, yêu cầu anh B cấp dưỡng cháu Quyên mỗi tháng 2.000.000 đồng.

Xét thấy; Cha, mẹ đều có quyền và nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định của Luật hôn nhân gia đình. Anh B không tham gia tố tụng, không trình bày ý kiến về con chung. Hiện nay cháu Yên và cháu Tín đã thành niên nên chị H không có yêu cầu Tòa án xem xét. Đối với cháu Quyên hiện đang đi học và phát triển B thường, cháu Quyên cũng có nguyện vọng được ở với mẹ. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy giao cháu Nguyễn Thị Bích Q cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi) là phù hợp theo quy định tại các Điều 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Căn cứ vào thu nhập thực tế của anh B và theo quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử buộc anh B cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi con thành niên là phù hợp với quy định tại Điều 110 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Điều 7 Nghị quyết 01/2024/NĐ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, Nghị định 74/2024/NĐ-CP của Chính phủ, Nghị định 128/2025/NĐ-CP của Chính phủ.

- Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về nợ chung: Đương sự khai không có nợ chung và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Nguyên đơn chị Võ Thị Kim H và anh Nguyễn B phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025);

Căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84, 110 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” của nguyên đơn chị Võ Thị Kim H.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị Kim H được ly hôn với anh Nguyễn B.

- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Bích Q, sinh ngày 01/9/2009 cho chị Võ Thị Kim H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi thành niên (Đủ 18 tuổi).

- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Nguyễn B có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung Nguyễn Thị Bích Q mỗi tháng 2.000.000 (Hai triệu) đồng cho đến khi cháu Nguyễn Thị Bích Q đủ 18 tuổi.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được ngăn cản họ thực hiện quyền này. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó. Khi cần thiết, các bên có quyền làm đơn xin thay đổi việc nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về nợ chung: Không có và đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

2. Về án phí:

Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm chị Võ Thị Kim H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Võ Thị Kim H đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000240 ngày 09 tháng 7 năm 2025 của Thi hành án dân sự thành phố Đà N. Chị Võ Thị Kim H đã nộp xong án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm. Bị đơn anh Nguyễn B phải ch ịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí cấp dưỡng nuôi con chung

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

- TAND tỉnh Quảng Nam;

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

- Các đương sự;

- UBND xã Phú Ninh;

- VKSND Khu vực 7;

- Phòng THADS Khu vực 7;

- Lưu hồ sơ vụ án, án văn.

Đinh Văn Long

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa TOÀ ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN PHÚ NINH

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc TỈNH QUẢNG NAM Số:.../2017/QĐST-HNGĐ

Phú Ninh, ngày 30 tháng 3 năm 2017

QUYẾT ĐỊNH

HOÃN PHIÊN TÒA

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ NINH, TỈNH QUẢNG NAM

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Quân.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Thị Sỹ.

2. Bà Huỳnh Thị Bích Phi.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mận là Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Triệu Tin - Kiểm sát viên.

Đã tiến hành mở phiên toà sơ thẩm xét xử vụ án dân sự thụ lý số: 175/2016/TLST-HNGĐ, ngày 26 tháng 12 năm 2016 về việc “Tranh chấp ly hôn, tranh chấp về nuôi con, trách nhiệm trả nợ chung khi ly hôn”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2017.

Xét thấy bị đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ mà vắng mặt tại phiên toà lần thứ nhất không có lý do.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 227 và Điều 233, 235 của Bộ luật tố tụng dân sự;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Hoãn phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 175/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 3 năm 2017.

2.Thời gian, địa điểm mở lại phiên toà xét xử vụ án được ấn định như sau:

Phiên toà dân sự sơ thẩm sẽ được mở lại vào hồi 07 giờ 30 phút ngày 14 tháng 4 năm 2017 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam. Địa chỉ: Thị trấn Phú Thịnh, huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam.

Cỡ chữ