- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T phạm tội mua bán trái chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tôi "Mua bán trái phép chất ma túy"; bị cáo Đinh Thị T phạm tôi "Tàng trữ trái phép chất ma túy";
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. HẢI DƯƠNG - TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 114/2024/HS- ST Ngày: 21- 8 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG - TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tú.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Tươi.
2. Bà Phạm Thị Thu
- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Đức Thiên, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Đức- Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 108/2024/TLST- HS ngày 16 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 115/2024/QĐXXST- HS ngày 09 tháng 8 năm 2024; đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Văn T, sinh năm 1982 tại tỉnh Hải Dương; Nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương; nghê nghiệp: Lao đông tự do; trình đô văn hoa: 5/12; dân tôc: Kinh; giới tinh: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H và con bà Vũ Thị H (đêu đã chết); vợ Lương Thị H; co 03 con; tiên án, tiên sự: Không; nhân thân: Tại bản án số 39/2002/HSST ngày 18/9/2002, TAND huyện ĐăkR’ Lắp, tỉnh Đắc Nông xử phạt 12 tháng tù vê tôi “Trôm cắp tài sản”; chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/5/2003 và án phi HSST; Tại bản án số 10/2006/HSST ngày 06/9/2006, TAND huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên xử phạt 39 tháng tù vê tôi “Trôm cắp tài sản”; Tại bản án số 18/2006/HSST ngày 07/9/2006, TAND huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương xử phạt 12 tháng tù vê tôi “Trôm cắp tài sản”, Quyết định tổng hợp hình phạt với Bản án số 10/2006/HSST ngày 06/9/2006 TAND huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên T phải chấp hành hình phạt chung là 4 năm 6 tháng tù, chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/10/2010; Tại bản án số 11/2011/HSST ngày 05/5/2011, TAND huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên xử phạt 48 tháng tù vê tôi “Trôm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/11/2014 và án phi HSST; Tại bản án số 47/2018/HSST ngày 02/7/2018, TAND huyện Gia Lôc, tỉnh Hải Dương xử phạt 17 tháng tù vê tôi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 14/5/2019 được miễn tiên án phi HSST. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/4/2024 đến nay (hiện đang bị tạm giam tại trại giam Công an tỉnh Hải Dương). Co mặt.
2. Đinh Thị T, sinh năm 1980 tại tỉnh Hải Dương; Nơi ĐKHKTT: Khu .., phường C, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương; nghê nghiệp: Lao đông tự do; trình đô văn hoa: 12/12; dân tôc: Kinh; giới tinh: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn C và bà Phạm Thị P; chồng Trần Công H, co 3 con; tiên án, tiên sự: Không; Nhân thân: Tại bản án số 62/2004/HSST ngày 15/4/2004, TAND thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng vê tôi “Trôm cắp tài sản”; chấp hành xong hình phạt ngày 15/12/2005 và án phi HSST; Tại Quyết định xử phạt hành chinh số 32 ngày 10/01/2008 của Công an thành phố Hải Dương vê hành vi chiếm đoạt tài sản, đã chấp hành xong ngày 10/01/2008; Tại bản án số 141/HSST ngày 25/8/2008, TAND quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử phạt 36 tháng tù vê tôi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, hình phạt bổ sung phạt 5.000.0000 đồng; chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/11/2010; nôp. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/4/2024 đến nay (hiện đang bị tạm giam tại trại giam Công an tỉnh Hải Dương). Co mặt.
Người làm chứng: Anh Phạm Huy C; anh Nguyễn Mạnh H;
(Những người làm chứng vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu co trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nôi dung vụ án được tom tắt như sau:
Hồi 07 giờ 5 phút ngày 26/4/2024, tại khu vực trước cổng trung tâm điêu trị Methadone ở đường Nguyễn Đại Năng, phường Thanh Bình, thành phố Hải Dương, Đôi CSĐT tôi phạm vê ma túy Công an thành phố Hải Dương phát hiện bắt quả tang Nguyễn Văn T co hành vi bán 01 goi ma túy, loại Heroine với số tiên 200.000 đồng cho Đinh Thị T. Thu giữ trong túi áo bên trái của T đang mặc 01 goi bạc màu trắng, kich thước (0,5x1)cm, bên trong co chứa chất bôt dạng cục màu trắng T vừa mua của T và 01 điện thoại Iphone 14 Promax màu tim, lắp sim số 0927.579.674; thu giữ của T 01 điện thoại Iphone 12 Pro màu vàng, lắp sim số 0889.566.468 và 01 xe mô tô nhãn hiệu SH Mode, màu xanh, BKS 34B4-792.12. Quá trình bắt giữ co người làm chứng của anh Phạm Huy C và anh Nguyễn Việt H.
Quá trình điêu tra làm rõ: Nguyễn Văn T và Đinh Thị T đêu sử dụng ma túy. Khoảng 18 giờ ngày 25/4/2024, T gặp và mua được 01 goi ma túy Heroine của môt người đàn ông không quen biết tại khu vực Cống Tranh, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên với số tiên 200.000 đồng, T lấy ra sử dụng môt it bằng hình thức hit, phần còn lại T cất trong túi quần bên phải đang mặc để ai hỏi mua sẽ bán. Khoảng 7 giờ 5 phút ngày 26/4/2024, T mang theo goi ma túy trên, điêu khiển xe mô tô nhãn hiệu SH Mode, màu xanh, BKS 34B4-792.12 (xe mượn của anh Nguyễn Văn Dương) đến khu vực trung tâm điêu trị Methadone, đường Nguyễn Đại Năng, phường Thanh Bình, thành phố Hải Dương. Tại đây, T gặp T, T hỏi mua ma túy của T, T đồng ý bán goi ma túy cho T với giá 200.000 đồng, T cầm goi ma túy và cất vào trong túi áo khoác bên trái đang mặc, T đọc cho T số tài khoản 0889566468 mở tại ngân hàng MBbank và bảo T chuyển tiên vào tài khoản, T chuyển số tiên 200.000 đồng bằng tài khoản 1078.699.68724 tại ngân hàng Vietinbank. Khi T và T vừa giao dịch mua ma túy xong, thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang, thu giữ trong túi áo khoác bên trái của T đang mặc 01 goi bạc màu trắng, kich thước (0,5x1)cm, bên trong co chứa chất bôt dạng cục màu trắng T vừa mua của T và 01 điện thoại Iphone 14 Promax màu tim, lắp sim số 0927.579.674; thu giữ của T 01 điện thoại Iphone 12 Pro màu vàng, lắp sim số 0889.566.468 và 01 xe mô tô nhãn hiệu SH Mode, màu xanh,BKS 34B4-792.12.
Tại Kết luận giám định số 234/KLGĐ-PC ngày 26-4-2024 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Chất bôt (dạng cục) màu trắng được niêm phong trong phong bì, ghi thu của Đinh Thị T, gửi đến giám định khối lượng là : 0,224 gam là ma túy, loại Heroine.
Tại cáo trạng số 112/CT - VKSTPHD ngày 12-7-2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương truy tố bị cáo Nguyễn Văn T vê tôi "Mua bán trái phép chất ma túy" theo khoản 1 Điêu 251 của Bô luật Hình sự (BLHS); bị cáo Đinh Thị T vê tôi "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điêu 249 của BLHS.
Tại phiên tòa: - Các bị cáo thành khẩn khai báo vê hành vi phạm tôi của mình, công nhận quyết định truy tố của VKSND thành phố Hải Dương là đúng, đê nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với các bị cáo.
- VKSND thành phố Hải Dương giữ nguyên quyết định truy tố, đê nghị Hôi đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tôi "Mua bán trái phép chất ma túy"; bị cáo Đinh Thị T phạm tôi "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Vê hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điêu 251 BLHS đối với bị cáo T; Áp dụng điểm c khoản 1 Điêu 249 BLHS đối với bị cáo T; Áp dụng điểm s khoản 1 và khoản 2 Điêu 51; khoản 1 Điêu 38 BLHS đối với các bị cáo T, T; xử phạt bị cáo T từ 27 tháng tù đến 30 tháng tù, thời hạn tù tinh từ ngày bắt tạm giữ, ngày 26/4/2024; xử phạt bị cáo T từ 15 tháng đến 18 tháng tù, thời hạn tù tinh từ ngày bắt, tạm giữ 26/4/2024. Vê hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với các bị cáo; Vê xử lý vật chứng: Căn cứ các điểm c khoản 1 Điêu 47 BLHS; điểm a, b khoản 2 Điêu 106 BLTTHS; Tịch thu cho tiêu hủy 01 (môt) phong bì niêm phong số 234/KL-KTHS, bên trong co chứa 0,174 gam Heroin; 01 (môt) mảnh giấy bạc màu trắng; 01 (môt) vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định được hoàn lại sau giám định; Tịch thu tiêu hủy 02 sim điện thoại số 0927579674, 0889566468, tịch thu nôp ngân sách nhà nước số tiên hiện co trong 02 tài khoản thuê bao di đông nêu trên. Căn cứ khoản 5 Điêu 9 và điểm đ khoản 2 Điêu 53 Luật Viễn thông năm 2023: Yêu cầu Công ty Cổ phần viễn thông di đông VietNamMobile và Công ty dịch vụ viễn thông Vinaphone là 02 đơn vị cung cấp dịch vụ viễn thông thu hồi 02 số viễn thông nêu trên. Tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước 01 (môt) điện thoại Iphone14 Promax màu tim; 01 (môt) điện thoại Iphone 12Pro màu vàng đang được quản lý tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Dương và số tiên 200.000 đồng trong tài khoản số 0889566468 mang tên Nguyễn Văn T đã được phong tỏa tại ngân hàng MB. Án phi: Áp dụng Điêu 136 BLTTHS; Luật phi và lệ phi số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hôi: Buôc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phi sơ thẩm hình sự.
Người làm chứng anh Phạm Huy C và anh Nguyễn Mạnh H vắng mặt tại phiên tòa co lời khai trong hồ sơ như nôi dung vụ án và phù hợp với lời khai của bị cáo tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nôi dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hôi đồng xét xử nhận định như sau:
Vê hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điêu tra, Điêu tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điêu tra, truy tố đã thực hiện đúng vê thẩm quyên, trình tự thủ tục theo quy định của Bô luật Tố tụng hình sự. Tại quá trình điêu tra, các bị cáo không co ý kiến hoặc khiếu nại vê hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đo, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đêu hợp pháp.
Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với chinh lời khai của các bị cáo trong quá trình điêu tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tôi quả tang, người làm chứng, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập co trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hôi đồng xét xử co đủ cơ sở kết luận: Khoảng 7 giờ 5 phút ngày 26/4/2024 tại khu vực trước cổng trung tâm điêu trị Methadone đường Nguyễn Đại Năng, phường Thanh Bình, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương, Nguyễn Văn T bán trái phép 0,224 gam ma túy, loại Heroine với số tiên 200.000 đồng cho Đinh Thị T mua để sử dụng thì bị Đôi CSĐT tôi phạm vê ma túy Công an thành phố Hải Dương phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Các bị cáo là người co đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo Nguyễn Văn T nhận rõ được hành vi bán chất ma túy, loại Heroine cho Đinh Thị T vào ngày 26/4/2024 mục đich để bán kiếm lời là vi phạm pháp luật, song vì hám lợi bị cáo vẫn thực hiện, nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tôi "Mua bán trái phép chất ma túy" được quy định tại khoản 1 Điêu 251 BLHS; bị cáo Đinh Thị T nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là nguy hiểm cho xã hôi, vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện tàng trữ 0,224 gam ma túy, loại Heroine. Nên hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tôi "Tàng trữ trái phép chất ma túy" được quy định tại điểm c khoản 1 Điêu 249 BLHS.
Như vậy, Quyết định truy tố của VKSND thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương đối với các bị cáo vê tôi và điêu luật như trên là hoàn toàn co căn cứ.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hôi, xâm phạm đến quy định của Nhà nước vê quản lý, sử dụng chất ma túy, xâm phạm an toàn trật tự công công, làm mất trật tự xã hôi ở địa phương. Do vậy, cần phải xem xét xử lý theo đúng quy định của pháp luật.
Vê nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo T co nhân thân không tốt, năm 2002, 2006, 2011 và năm 2018 đã bị kết án; bị cáo T co nhân thân không tốt, năm 2004, 2008 đã bị kết án, năm 2008 còn bị xử phạt hành chinh; Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào; Quá trình điêu tra và tại phiên toà các bị cáo đã thành khẩn khai báo vê hành vi phạm tôi của mình nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điêu 51 của BLHS. Cả hai bị cáo đêu co bố đẻ được Nhà nước tặng thưởng huân huy chương nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điêu 51 BLHS.
Căn cứ quy định của Bô luật Hình sự, cân nhắc tinh chất, mức đô nguy hiểm cho xã hôi của hành vi phạm tôi, vị tri vai trò, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: HĐXX cần áp dụng hình phạt tù co thời hạn đối với các bị cáo môt thời gian thì mới co tác dụng giáo dục các bị cáo trở thành người tốt và đấu tranh phòng ngừa chung.
Vê hình phạt bổ sung: Các bị cáo không co tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiên đối với các bị cáo.
Vê xử lý vật chứng: Đối với 0,174 gam ma túy, loại Heroine là vật Nhà nước cấm lưu hành, nên cần tịch thu cho tiêu hủy; 01 phong bì niêm phong số 234/KL-KTHS, 01 mảnh giấy bạc màu trắng, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật ký hiệu không còn giá trị sử dụng cần tịch thu cho tiêu hủy; Tịch thu nôp ngân sách số tiên 200.000 đồng của T do phạm tôi mà co. Trả lại 01 điện thoại Iphone 14 Promax màu tim, lắp sim số 0927.579.674 cho bị cáo T và trả lại cho bị cáo T 01 điện thoại Iphone 12 Pro màu vàng, lắp sim số 0889.566.468 .
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu SH Mode, màu xanh, BKS 34B4-792.12 của anh Nguyễn Văn D, anh D cho T mượn không biết T sử dụng làm phương tiện phạm tôi, nên không co căn cứ xử lý, Cơ quan CSĐT- Công an thành phố Hải Dương đã trả lại cho chủ sở hữu anh D là phù hợp.
Trong vụ án này, người bán mua túy cho T, quá trình điêu tra không làm rõ được nên không co căn cứ để xử lý.
Vê án phi: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phi hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điêu 251 BLHS đối với bị cáo Nguyễn Văn T; Căn cứ điểm c khoản 1 Điêu 249 BLHS đối với bị cáo Đinh Thị T; căn cứ điểm s khoản 1 và khoản 2 Điêu 51; khoản 1 điêu 38 của BLHS đối với bị cáo T, T; Căn cứ các điểm a, c khoản 1 Điêu 47 BLHS; điểm a, b khoản 2, khoản 3 Điêu 106, Điêu 331, 333 BLTTHS; Căn cứ khoản 2 Điêu 136 của BLTTHS; Luật phi và lệ phi số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; điểm a khoản 1 Điêu 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hôi vê mức thu, miễn, giảm, thu, nôp, quản lý và sử dụng án phi và lệ phi Toà án.
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tôi "Mua bán trái phép chất ma túy"; bị cáo Đinh Thị T phạm tôi "Tàng trữ trái phép chất ma túy";
1.1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tinh từ ngày bắt, tạm giữ 26/4/2024.
1.2. Xử phạt bị cáo Đinh Thị T 16 (mười sáu) tháng tù, thời hạn tù tinh từ ngày bắt, tạm giữ 26/4/2024.
2.Vê xử lý vật chứng: Tịch thu cho tiêu hủy 0,174 gam ma túy, loại Heroine; 01 phong bì niêm phong số 234/KL-KTHS, 01 mảnh giấy bạc màu trắng, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật; Tịch thu nôp ngân sách số tiên 200.000 đồng của bị cáo T (trong tài khoản số 0889566468 mang tên Nguyễn Văn T đã được phong tỏa tại ngân hàng MB). Trả lại 01 điện thoại Iphone 14 Promax màu tim, lắp sim số 0927.579.674 cho bị cáo T; trả lại 01 điện thoại Iphone 12 Pro màu vàng, lắp sim số 0889.566.468 cho bị cáo T.
(Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan CSĐT Công an thành phố Hải Dương và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hải Dương ngày 20/8/2024 ).
3. Vê án phi: Các bị cáo Nguyễn Văn T, Đinh Thị T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phi hình sự sơ thẩm.
4. Vê quyên kháng cáo: Các bị cáo co quyên kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm ngày), kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hải Dương; - Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương; -VKSND thành phố Hải Dương; - Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương; - Cơ quan CSĐT, Cơ quan T.H.A. HS - Công an thành phố Hải Dương; - Chi cục THADS thành phố Hải Dương; - Hồ sơ nghiệp vụ- Công an thành phố Hải Dương; - Các bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Văn Tú |