- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 251 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 114/2024/HS-ST Ngày: 02 - 12 -2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thu Hiền
Các hội thẩm nhân dân: Ông Đào Danh Tuất
Bà La Thị Thu Nga
- Thư ký phiên tòa:
Ông Huỳnh Trọng Nhân
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Trí Dũng – Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 116/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 114 /2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2024 đối với:
Bị cáo Trần Thị Như H; sinh ngày 03/02/2005, tại tỉnh Vĩnh Long. Hộ khẩu thường trú: Không; nơi ở: Không nơi cư trú ổn định; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam. Con ông Nguyễn Thanh T, sinh năm: (không rõ) và bà Trần Thị Kim C, sinh năm: 1986. Chồng, con: Chưa có. (Có mặt)
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 22/5/2024 và hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Người chứng kiến: Ông Vũ Chí T1, sinh năm 1999; địa chỉ: khu phố Phước An, thị trấn Phước Bửu, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Thị Như H là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy. Khoảng 17 giờ ngày 29/12/2023, H đang ở Nhà nghỉ Phúc A thuộc xã Phước Tân, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu thì nhận được điện thoại của một người tên M (không rõ lai lịch) nhờ mua giúp 300.000 đồng ma túy đá. H gọi cho một người tên V (không rõ lai lịch) qua ứng dụng Messeger hỏi mua 500.000 đồng ma túy. H đi bộ đến hẻm thuộc tỉnh lộ 328 xã Phước Tân, huyện Xuyên Mộc theo chỉ dẫn của V để lấy ma túy. Sau đó, H về lại Nhà nghỉ Phúc A đổ gói ma túy vừa mua sang 01 gói nylon khác do gói ban đầu bị ẩm. Thấy gói nylon chứa ma túy cũ vẫn còn dính một ít ma túy nên H giữ lại bên mình để sử dụng. H gọi cho M, hẹn giao ma túy tại đường hẻm thuộc khu phố Láng Sim, thị trấn Phước Bửu. H bắt taxi đến địa điểm hẹn đợi M, chưa kịp giao thì bị Công an huyện Xuyên Mộc phối hợp Công an thị trấn Phước Bửu phát hiện cùng tang vật. Lực lượng tuần tra kiểm tra, phát hiện H có hành vi tàng trữ trái phép gói ma tuý như đã nêu trên nên tiến hành lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang đối với H đồng thời, thu giữ vật chứng để xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại Cơ quan Công an, Trần Thị Như H khai nhận tàng trữ trái phép gói ma tuý trên mục đích bán kiếm tiền lời, nếu gặp được M, H sẽ lấy gói ma túy nhiều hơn đổ một nửa vào gói ma túy bị ẩm ban đầu và đưa cho M một trong hai gói với giá 300.000 đồng, số còn lại H giữ để sử dụng.
* Về kết quả giám định: Kết luận giám định số 88/KL-KTHS-MT ngày 05 tháng 01 năm 2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu kết luận: Mẫu A1 có khối lượng 0,8275 gam, là ma túy, loại Methamphetamine; Mẫu A2 có khối lượng 0,0365 gam, là ma túy, loại Methamphetamine. Tổng khối lượng là 0,864 gam ma túy loại Methamphetamine.
* Vật chứng thu giữ và xử lý:
Ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong 02 phong bì màu trắng ghi vụ số 88/1 và 88/2 ngày 05 tháng 01 năm 2024, có in hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, cùng các chữ ký ghi họ tên: Thượng tá Đỗ Ngọc Đ, Võ Thanh H1, Đỗ Thị Linh S. 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A11 màu trắng, số IMEI : 355629110892681, bên trong chứa 01 (một) sim số: xxxx xxx xxx đã kiểm tra dữ liệu điện tử không phát hiện gì liên quan đến vụ án. Điện thoại được niêm phong lại trong 01 phong bì màu trắng có in hình dấu của Cơ quan CSĐT Công an huyện Xuyên Mộc, cùng các chữ ký ghi rõ họ tên: Nguyễn Quốc D, Phạm Đức K, Trần Thị Như H, Vũ Đình C1. Hiện tất cả vật chứng trên đã chuyển Chi cục thi hành án dân sự huyện Xuyên Mộc quản lý, chờ xử lý.
Tại bản cáo trạng số 117/CT-VKSLĐ, ngày 04 - 11 - 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu quyết định truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc để xét xử bị cáo Trần Thị Như H về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc tại phiên toà: Giữ nguyên Quyết định truy tố bị cáo theo nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự đề nghị mức phạt đối với bị cáo Trần Thị Như H từ 2 năm 6 tháng đến 3 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị:
Số ma tuý còn lại sau khi giám định được niêm phong trong 02 (hai) phong bì màu trắng ghi vụ số 88/1 và 88/2 ngày 05 tháng 01 năm 2024, có in hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu là vật nhà nước cấm tàng trữ lưu hành nên đề nghị tịch thu tiêu huỷ.
01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A11 màu trắng, số IMEI: 355629110892681(đã qua sử dụng), bên trong có chứa một sim số xxxxxxxxxx được niêm phong lại trong một phong bì màu trắng, có in hình dấu của cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Xuyên Mộc, bị cáo dùng để liên lạc mua bán ma tuý, đề nghị tịch thu sung ngân sách nhà nước.
Bị cáo Trần Thị Như H nói lời nói sau cùng: Bị cáo mong hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về với mẹ và bà của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Xuyên Mộc, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.
Về hành vi phạm tội: Xét thấy, lời khai nhận về hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo về hành vi phạm tội tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Chiều tối ngày 29 tháng 12 năm 2023, tại đường hẻm thuộc khu phố Láng Sim, thị trấn Phước Bửu, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Trần Thị Như H đã có hành vi tàng trữ 0,864 gam ma túy loại Methamphetamine để sử dụng và bán lại cho M (không rõ lai lịch) với giá là 300.000 đồng nhằm mục đích kiếm lời nhưng chưa kịp giao thì bị Công an phát hiện cùng tang vật. Do đó, hành vi của Trần Thị Như H đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như trên là đúng người, đúng tội.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Bị cáo bản thân là người sử dụng ma tuý lại còn có hành vi mua ma tuý từ người khác để bán kiếm lời, đây là một trong những nguyên nhân làm lan rộng các loại tệ nạn xã hội khác. Trong khi các cơ quan chức năng Nhà nước và toàn nhân dân đang lên án, ngăn chặn, đẩy lùi tệ nạn ma túy ra khỏi xã hội, như vậy hành vi của bị cáo thể hiện thái độ xem thường pháp luật, chống đối lại trật tự trị an mà toàn xã hội đang ra sức bảo vệ. Do đó, cần phải áp dụng hình phạt thật nghiêm khắc đối với bị cáo, phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.
Đối với đối tượng tên V (chưa rõ nhân thân lai lịch) là người bán ma túy cho H; H khai nhận liên hệ với V mua ma túy qua ứng dụng Messenger nhưng H đã xóa cuộc gọi sau khi đã mua ma tuý xong nên không nhớ được tài khoản của V và cũng không biết V ở đâu. Đối tượng tên M (chưa rõ nhân thân lai lịch) là người gọi điện thoại cho H để mua ma túy của H, H cũng khai nhận sau khi gọi điện hẹn địa điểm gặp để giao ma tuý thì H đã xoá số điện thoại của M; H cũng không biết M ở đâu, cũng không nhớ số điện thoại của M. Đối tượng V và đối tượng M hiện chưa điều tra làm rõ được; đề nghị Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Xuyên Mộc tiếp tục xác minh, điều tra, làm rõ xử lý sau đúng theo đúng quy định.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về áp dụng hình phạt:
Hình phạt chính: Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo ý thức được đây là hành vi nguy hiểm cho xã hội bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Hình phạt bổ sung: Bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng trong vụ án:
- Số ma tuý còn lại trong 02 (hai) phong bì màu trắng ghi vụ số 88/1 và 88/2 ngày 05 tháng 01 năm 2024, có in hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu là vật nhà nước cấm tàng trữ lưu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A11 màu trắng, số IMEI: 355629110892681(đã qua sử dụng), bên trong có chứa một sim số xxxxxxxxxx được niêm phong lại trong một phong bì màu trắng, có in hình dấu của cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Xuyên Mộc, bị cáo sử dụng để liên hệ mua bán ma tuý nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự:
1.1 Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Thị Như H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
1.2 Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Thị Như H 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22 tháng 5 năm 2024.
Không phạt tiền bổ sung đối với bị cáo Trần Thị Như H.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ Luật hình sự; Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy số ma tuý còn lại sau giám định đựng trong 02 (hai) phong bì màu trắng ghi vụ số 88/1 và 88/2 ngày 05 tháng 01 năm 2024, có in hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A11 màu trắng, số IMEI: 355629110892681(đã qua sử dụng), bên trong có chứa một sim số xxxxxxxxxx được niêm phong lại trong một phong bì màu trắng, có in hình dấu của cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Xuyên Mộc.
(Vật chứng trên hiện đang được cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng số 23/BB ngày 19-11-2024)
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Trần Thị Như H phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 311, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh BRVT; - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh BRVT; - Công an tỉnh BRVT (PV06-PC10- PA09); - VKSND huyện Xuyên Mộc; - Công an huyện Xuyên Mộc; - Chi cục THADS huyện Xuyên Mộc; - Sở Tư pháp tỉnh BRVT; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thu Hiền |