vanban.org

Bản án 114/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LY HÔN V NG - H NG"
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ GC
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 114/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 03-7-2024
V/v “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GC, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo;

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Đảnh;

2. Bà Võ Thị Bích Liên;

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Hồng Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố GC, tỉnh Tiền Giang;

Ngày 03 tháng 7 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố GC, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 41/2024/TL T-HNGĐ, ngày 09 tháng 4 năm 2024, về tranh chấp “L y hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104a/2024/ Đ T-HNGĐ, ngày 28 tháng 5 năm 2024 và uyết định hoãn phiên toà số 134/2024/ Đ T-HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Vương Ng, sinh năm: 1987;

Địa chỉ: 30 VVK, khu phố M, phường N, thành phố GC, tỉnh Tiền Giang. (Xin vắng mặt)

2. Bị đơn: Anh Lê Hoàng Ng, sinh năm: 1997;

Địa chỉ: Số 6 PT, khu phố B, phường H, thành phố GC, tỉnh Tiền Giang. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn xin ly hôn, bản tự khai, quá trình tố tụng nguyên đơn Nguyễn Thị Vương Ng trình bày:

Chị và anh Hoàng Ng kết hôn và chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện từ năm 2020, được Ủy ban nhân dân Phường H, thị xã GC (nay là thành phố GC), tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 22 vào ngày 02/6/2020. Quá trình chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn do chị và anh Ngọc bất đồng quan điểm về tiền bạc, thường xuyên cãi nhau, anh chị đã ly thân từ năm 2022 đến nay, trong quá trình ly thân hai bên nhiều lần hàn gắn nhưng không thành. Nay tình cảm không còn chị yêu cầu ly hôn với anh Hoàng Ng.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu toà án giải quyết.

* Bị đơn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, không có ý kiến trình bày mặc dù toà án đã tống đạt hợp lệ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

au khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án và quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Nguyễn Thị Vương Ng xin ly hôn với anh Lê Hoàng Ng, bị đơn có nơi thường trú tại phường H, thành phố GC nên căn cứ vào Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự xác định đây là vụ án tranh chấp về “Ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố GC, tỉnh Tiền Giang.

Về tố tụng: Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt. Bị đơn vắng mặt không có lý do mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ. Căn cứ vào các Điều 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đương sự trên.

Về nội dung vụ án:

Chị Nguyễn Thị Vương Ng và anh Lê Hoàng Ng kết hôn trên tinh thần tự nguyện và được Ủy ban nhân dân Phường 2, thị xã GC (nay là thành phố GC), tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 22 vào ngày 02/6/2020 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Chị Vương Ng cho rằng trong thời gian chung sống thì phát sinh mâu thuẫn do hai bên bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi nhau về tiền bạc, vợ chồng đã ly thân từ năm 2022 đến nay, trong thời gian ly thân cũng có hàn gắn nhưng không thành. Nay tình cảm không còn chị yêu cầu ly hôn với anh Hoàng Ng.

Trong quá trình giải quyết, anh Hoàng Ng đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án nhưng anh Hoàng Ng không có ý kiến gì và vắng mặt trong các buổi hòa giải. Cho thấy anh Hoàng Ng không còn tha thiết hàn gắn cuộc hôn nhân này.

Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn giữa chị Vương Ng và anh Hoàng Ng đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng đã có thời gian ly thân với nhau nhưng chị Vương Ng và anh Hoàng Ng đến nay vẫn không thể hàn gắn được. Do đó, yêu cầu ly hôn của chị Vương Ng là có cơ sở để chấp nhận. Căn cứ vào Điều 56 luật Hôn nhân gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Vương Ng với anh Hoàng Ng.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét;

. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Vương Ng phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTV H14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ uốc hội.

. Về quyền kháng cáo của đương sự: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các l trên,

U T ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Các Điều 147, 227, 228, 238, 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Nghị quyết số 326/2016/PL-UBTV H14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ uốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên x :

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Vương Ng.

1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Vương Ng được ly hôn với anh Lê Hoàng Ng.

2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Vương Ng phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0000750 ngày 09 tháng 4 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã GC (nay là thành phố GC), tỉnh Tiền Giang. Như vậy, chị Vương Ng đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Anh Lê Hoàng Ng không phải nộp án phí.

3. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, đương sự có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm. Trường hợp đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật. * Nơi nhận:

Cỡ chữ