- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NGỌC- TIẾN"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Thị Ngọc về việc “ Tranh chấp ly hôn ” với bị đơn anh Lê Văn Minh Tiến.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH KIÊN GIANG ——————— Bản án số: 114/2024/HNGĐ-ST Ngày: 21/11/2024 V/v: Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Danh Pì Sách
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Vũ Văn Hợp;
2. Ông Nguyễn Văn Kiện
- Thư ký phiên Tòa: Ông Danh Lý Khang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Ông Bành Bảo Ngọc – Kiểm Sát viên.
Ngày 21 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 286/2024/TLST – HNGĐ, ngày 16 tháng 7 năm 2024 về việc “ Tranh chấp ly hôn ”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 115a/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 10 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 85/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 15 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Thị Ngọc, sinh năm: 1993
Địa chỉ: ấp An Khương, xã Minh Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.
(Chị Ngọc có mặt tại phiên tòa)
* Bị đơn: Anh Lê Văn Minh Tiến, sinh năm: 1988;
Địa chỉ: ấp Mỹ Thới, xã Vĩnh Thời, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
Chỗ ở hiện nay: ấp An Khương, xã Minh Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.
(Anh Tiến vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 12/7/2024, và trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Thị Ngọc trình bày: Vào năm 2014, chị và anh Lê Văn Minh Tiến quen biết nhau, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Minh Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang theo quy định của pháp luật được cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 174, ngày 05/11/2018.
Về con chung: Chị Ngọc xác nhận trong quá trình chung sống với Tiến hai vợ chồng không có con chung.
Về tài sản chung: Chị Ngọc xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Chị Ngọc xác định vợ chồng anh chị không có nợ ai và không ai nợ vợ chồng anh chị.
Trong thời gian chung sống, vợ chồng anh chị thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, hay bất đồng ý kiến, quan điểm, thường xuyên cự cãi với nhau dù rằng hai vợ chồng đã cố gắng tìm tiếng nói chung nhưng không thành, từ đó dẫn đến hai bên không còn tình cảm, cuộc sống không còn hạnh phúc và chị Ngọc và anh Tiến đã sống ly thân từ cuối năm 2020 đến nay. Do mục đích hôn hôn nhân không đạt nên chị Ngọc làm đơn ly hôn gởi đến Tòa án yêu cầu như sau:
- Về hôn nhân: Xin được ly hôn với anh Lê Văn Minh Tiến
- Về con chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn anh Lê Văn Minh Tiến đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, Thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh Tiến điều không có mặt và không gửi văn bản trình bày ý kiến để Tòa án xem xét. Do đó, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và kết quả xác minh Tòa án tiến hành giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, sự tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng và ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký thực hiện đúng quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Thời hạn chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung:
Về hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ngọc được ly hôn với anh Tiến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
– Về thẩm quyền và quan hệ tranh chấp: Chị Ngọc yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và nuôi con với anh Tiến, do đó đây là quan hệ “Tranh chấp ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 BLTTDS năm 2015. Đối với bị đơn anh Tiến có địa chỉ cư trú tại ấp Mỹ Thới 2, xã Vĩnh Thời, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp nhưng theo xác nhận ngày 14/8/2024 của UBND xã Minh Hòa, hiện anh Tiến đang sinh sống, làm việc tại ấp An Khương, xã Minh Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS năm 2015.
– Về sự vắng mặt của đương sự: Anh Lê Văn Minh Tiến đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa lần thứ 2 theo quy định pháp luật nhưng anh Tiến vắng mặt không lý do nên hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp theo quy định pháp luật.
- Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của chị Thị Ngọc yêu cầu ly hôn với anh Lê Văn Minh Tiến, Hội đồng xét xử xét thấy rằng chị Ngọc và anh Tiến xác định anh chị xác lập quan hệ vợ chồng trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Minh Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 174, ngày 05/11/2018 nên hôn nhân của chị Ngọc và anh Tiến là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Ngọc cho rằng quá trình chung sống vợ chị phát sinh mâu thuẫn, theo chị Ngọc nguyên nhân là do tính cách và quan điểm sống giữa hai vợ chồng không phù hợp. Thực tế chị Ngọc và anh Tiến đã sống ly thân trong thời gian dài, không ai quan tâm đến ai. Đối với anh Tiến, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng để anh Tiến biết và mời anh lên làm việc nhưng anh Tiến vẫn không có mặt theo thông báo của Tòa án đều này thể hiện anh Tiến không muốn hòa giải cũng như không muốn hàn gắn để được đoàn tụ với chị Ngọc. HĐXX xét thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng chị Ngọc và anh Tiến đã kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị Ngọc vẫn cương quyết ly hôn với anh Tiến để ổn định cuộc sống. Do vậy, yêu cầu của chị Ngọc xin ly hôn với anh Tiến là phù hợp theo quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên có căn cứ để chấp nhận.
- Về con chung: Chị Thị Ngọc xác nhận trong thời gian chung chị và anh Tiến không có con chung.
- Về tài sản chung: Chị Ngọc xác định rằng anh chị không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó HĐXX không xem xét, giải quyết.
- Về nợ chung: Chị Ngọc xác định rằng anh chị không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Từ những nhận định nêu trên, HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Thị Ngọc về việc tranh chấp ly hôn là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
- Xét quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật như đã phân tích nêu trên, nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận.
- Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc chị Ngọc phải chịu các khoản án phí gồm: án phí ly hôn với số tiền là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Khoản 1 Điều 9; khoản 1 Điều 14; Điều 15; khoản 2 Điều 53; Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm thu, nộp và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên Xƣ:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Thị Ngọc về việc “ Tranh chấp ly hôn ” với bị đơn anh Lê Văn Minh Tiến.
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Thị Ngọc được ly hôn với anh Lê Văn Minh Tiến.
2. Về con chung: Chị Thị Ngọc xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
3. Về tài sản chung: Chị Ngọc xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
4. Về nợ chung: Chị Ngọc xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
5. Về án phí: Buộc chị Ngọc phải chịu các khoản án phí gồm: án phí ly hôn với số tiền là 300.000 đồng nhưng chị Ngọc được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005670, ngày 15/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang, nên chị Ngọc không phải nộp thêm.
6. Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
7. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tØnh Kiªn Giang;
THẨM PHÁN CHỦ TỌA – PHIÊN TÒA
- ViÖn KiÓm s¸t huyÖn Ch©u Thµnh;
- Chi cục THADS huyện Châu Thành;
- C¸c ®ương sù;
- Lưu hå s¬.
Danh Pì Sách
8.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Kiên Giang; - VKSND huyện Châu Thành; - THADS huyện Châu Thành; - UBND xã Bình An; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Danh Pì Sách |