vanban.org

Bản án 114/2023/QĐST-HS — Hình sự

TAND huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 15/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 46; Điều 47; Điều 50 và điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên bố bị cáo Lê Đỗ Anh K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Đỗ Anh K - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 46; Điều 47; Điều 50 và điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỐNG NHẤT
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 114/2023/HS-ST
Ngày: 15-8-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thùy Trang

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Lộc

Bà Nguyễn Thị Thắm

- Thư ký phiên tòa: Bà Quách Thị Khuyến là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Võ Ngọc Thạch - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2023, tại Hội trường A - Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 141/2023/TLST-HS ngày 25 tháng 7 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 129/2023/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:

Lê Đỗ Anh K, sinh năm 2000 tại Đồng Nai, căn cước công dân số 075200011697; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu phố P, thị trấn D, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nơi cư trú: Ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Phụ hồ; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Đức H (1977) và bà Đỗ Thị Ngọc H1 (1975); bị cáo là con thứ nhất trong gia đình có ba anh em và chưa có vợ con; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/3/2023 đến ngày 08/4/2023 bị tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Thống Nhất. (Có mặt)

- Người chứng kiến: Anh Dương Thế S, sinh năm 2000

Nơi cư trú: Ấp N, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

(Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Quá trình điều tra, Lê Đỗ Anh K khai nhận: K là đối tượng nghiện ma túy. Khoảng 20 giờ ngày 28/3/2023, K sử dụng điện thoại di động hiệu Samsung, màu xanh da trời, ốp lưng màu đen có cài ứng dụng Zalo và dùng tài khoản có tên Zalo là “Lê Đỗ Anh K” gọi cho đối tượng tên là T ở khu vực xóm M, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai (không rõ nhân thân, lai lịch) có tên zalo là “Nguyễn Văn T2” hỏi mua 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) ma túy đá, T đồng ý và hẹn hôm sau giao ma túy. Khoảng 10 giờ ngày 29/3/2023, T sử dụng tài khoản Zalo tên “Nguyễn Văn T2” gọi vào tài khoản Zalo tên “Lê Đỗ Anh K” cho K và hẹn đến khu vực quán cà phê C, thuộc ấp N, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai để giao ma túy, K đồng ý. Sau đó, K điều khiển xe môtô biển số 60B7-549.91 đến điểm hẹn trên để mua ma túy. Tại đây, K đưa cho T 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), T chỉ chỗ giấu ma túy trên tường rào gần cổng quán cà phê C, bên cạnh có một hộp dầu gió xanh Phật Linh Trường Sơn. Sau khi lấy được ma túy, K điều khiển xe môtô đi về thì bị lực lượng Công an bắt quả tang cùng tang vật.

Tại Kết luận giám định số 651/KL-KTHS ngày 06/4/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,2170 gam, loại Methaphetamine.

Tại Cáo trạng số 86/CT-VKS-TN ngày 25 tháng 7 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất truy tố Lê Đỗ Anh K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo K từ 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng đến 02 (Hai) năm tù. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử quyết định về án phí hình sự sơ thẩm và xử lý vật chứng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Đỗ Anh K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tham gia tranh luận chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo có trong hồ sơ vụ án;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1 Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thống Nhất, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo cũng như những người tham gia tố tụng khác khẳng định khai báo tự nguyện, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[1.2] Người chứng kiến - anh Dương Thế S mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa không rõ lý do. Xét thấy, việc vắng mặt của anh S không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó, căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

2 Về tội danh và khung hình phạt: Tại phiên tòa, Lê Đỗ Anh K khai nhận hành vi phạm tội do mình thực hiện như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, lời khai nhận tội này phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Vào lúc 10 giờ 30 phút ngày 29/3/2023, tại khu vực ấp N, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma túy phối hợp cùng Công an xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai bắt quả tang Lê Đỗ Anh K có hành vi tàng trữ trái phép 0,2170 gam ma túy, loại Methaphetamine. Như vậy, hành vi của Lê Đỗ Anh K thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung hình phạt: “Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy ..., thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: ...c) ..., Methamphetamine ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng số 86/CT-VKS-TN ngày 25 tháng 7 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất truy tố Lê Đỗ Anh K về tội danh và khung hình phạt như đã nêu trên là đúng người, đúng tội và không oan sai cho bị cáo.

3 Về tính chất, mức độ hành vi của bị cáo: Xét tính chất của vụ án thấy rằng, tình hình tội phạm ma túy nói chung và trên địa bàn huyện Thống Nhất nói riêng có chiều hướng phức tạp với tính chất ngày càng nghiêm trọng, gây nhức nhối cho xã hội và trở thành nỗi lo của nhiều gia đình. Hậu quả do tệ nạn ma túy gây ra rất nghiêm trọng, làm tổn hại sức khỏe của một bộ phận nhân dân, đồng thời là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước. Ma túy là chất gây nghiện, người nghiện ma túy ảnh hưởng nghiêm trọng đến thể chất và tinh thần. Vì vậy, cần áp dụng mức hình phạt đủ nghiêm tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.

4 Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bản thân bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo phạm tội lần đầu; học vấn thấp nên nhận thức pháp luật bị hạn chế là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, là căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

5 Về quyết định hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội nên cần tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội để bị cáo có thời gian suy nghĩ về hành vi phạm tội của mình, tự giác cải tạo, học tập, lao động trở thành công dân sống lương thiện, có ích cho xã hội và biết tuân thủ pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền…”. Tuy nhiên, do bị cáo không có thu nhập và tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

7 Về vật chứng vụ án:

- Một gói niêm phong số 651/KL-KTHS, bên trong chứa mẫu vật còn lại sau giám định (0,1958 gam, loại Methamphetamine) là vật cấm lưu hành; một vỏ bao dầu Phật Linh Trường Sơn không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Một xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Ware RSX 125cc màu đen trắng, biển số 60B7-549.91 và một điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh da trời, ốp lưng màu đen là tài sản của bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

Các vấn đề khác: Đối với đối tượng tên “T” ở khu vực xóm M, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai (không rõ nhân thân, lai lịch) là đối tượng bán ma túy cho bị cáo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thống Nhất đã tiến hành truy tìm, xác minh nhưng không xác định được. Mặt khác, ngày 09/4/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thống Nhất đã có văn bản yêu cầu Công ty cổ phần công nghệ Việt Nam (VNG) cung cấp thông tin liên quan đến các tài khoản Zalo là “Lê Đỗ Anh K” và “Nguyễn Văn T2” (do bị cáo và T dùng để liên lạc khi mua bán ma túy) nhưng đến nay chưa có kết quả nên cần tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ, khi đủ căn cứ sẽ xử lý sau.

9 Xét ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về phần tội danh, điều khoản truy tố và hình phạt là có căn cứ, phù hợp với các tình tiết của vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa nên chấp nhận.

10 Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 46; Điều 47; Điều 50 và điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

- Điều 106 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Lê Đỗ Anh K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lê Đỗ Anh K 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/3/2023.

2. Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy một gói niêm phong số 651/KL-KTHS, bên trong chứa mẫu vật còn lại sau giám định (0,1958 gam, loại Methamphetamine) và một vỏ bao dầu Phật Linh Trường Sơn; Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước một xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Ware RSX 125cc màu đen trắng, biển số 60B7-549.91 và một điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh da trời, ốp lưng màu đen (Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 25/7/2023 giữa Công an huyện Thống Nhất và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thống Nhất).

3. Về án phí: Buộc bị cáo Lê Đỗ Anh K phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ