vanban.org

Bản án 114/2023/HSST — Hình sự

TAND TP. Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình Tuyên án 29/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lường Văn Tuấn - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
N
ỈN ÒA BÌN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 114/2023/HSST
Ngày 29/9/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG ÒA XÃ ỘI C Ủ NG ĨA VIỆ NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN

N

, ỈN ÒA BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguy n Thị Đà Giang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguy n Xuân Giao và bà Ng Thị Như Hoa

- Thư ký phiên tòa: Bà B i Thị Thảo – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành ph H tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Mạnh Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2023 tại Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm c ng khai vụ án hình sự thụ lý số: 103/2023/TLST-HS ngày 14 tháng 9 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 111/2023/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo:

n V n . Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Kh ng.

Sinh ngày: 30/8/1991 tại tỉnh Hòa Bình.

Nơi cư trú: Tiểu khu Bờ, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; T n giáo: Kh ng; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Lường Văn , sinh năm: 1952; Con bà: Nguy n Thị Kim N; sinh năm: 1964; Có v là Xa Thị L, sinh năm 1993; Có 02 con: Con lớn sinh năm 2017, con nh sinh năm 2022; Gia đình bị cáo có hai anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình.

Tiền án, tiền sự: Kh ng;

Nhân thân: Không;

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/6/2023 đến nay, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ C ng an thành phố H, tỉnh Hòa Bình (có mặt tại phiên tòa).

- B hại: Bà V h Z, sinh năm 1986.

Trú tại: T 4, phường H, thành phố H, tỉnh Hòa Bình (đã chết)

- Người đại diện hợp pháp của b hại :

+ Anh Trần Thanh T, sinh năm 1984; v ng mặt, có ủy quyền)

Trú tại: T 4, phường H, thành phố H, tỉnh Hòa Bình.

+ Bà Lưu Thị V, sinh năm 1964; v ng mặt, có ủy quyền)

Trú tại: Khu Tr, xã Đ, huyện C, tỉnh Phú Thọ.

Đại diện theo ủy quy n của nh ng người đại diện hợp pháp của b hại:

Bà V Thị H, sinh năm 1984 (có mặt),

Trú tại: T 4, phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình.

- Người có quy n lợi, nghĩa vụ liên quan đ n vụ án:

+ Chị Xa Thị L, sinh năm 1993 (có mặt)

+ Anh Xa Quý L, sinh năm 1995 có mặt

Đều trú tại: Xóm M , xã Tu Lý, huyện Đà B c, tỉnh Hòa Bình.

- Nguyên đơn dân s : Ông Trần Văn B, sinh năm 1960 (v ng mặt, có đơn đề nghị xét xử v ng mặt)

Trú tại: T 4, phường H, thành phố H, tỉnh Hòa Bình.

- Người làm chứng:

+ Anh Nguy n Thanh N, sinh năm 1987 (v ng mặt, kh ng có lý do);

Trú tại: T 4, phường Qu nh L, thành phố H, tỉnh Hòa Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn bi n tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 06/6/2023, Lường Văn T (sinh ngày 30/8/1991, trú tại: Tiểu khu Bờ, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình) lái xe t Toyota biển kiểm soát 28A-170.57 trên đường Hữu Nghị đến đường Lê Thánh Tông đón khách hàng, đến địa phận t 8, phường Hữu Nghị, thành phố H, tỉnh Hòa Bình do điều khiển xe kh ng làm chủ tốc độ và kh ng giữ khoảng cách an toàn với xe đi trước c ng chiều nên đã đâm vào xe m t biển kiểm soát 28H1 – 400.81 do ông Trần Văn B, sinh năm 1960 ch chị V Thị , sinh năm 1986, c ng trú tại T 4, phường H, thành phố H, tỉnh Hòa Bình. Khiến ng Bình và chị Hường ngã xuống đường và tiếp tục đâm vào xe t biển kiểm soát 30F-007.68 do anh Nguy n Thanh N, sinh năm 1997, trú tại T 4, phường Qu nh L, thành phố H, tỉnh Hòa Bình điều khiển đi phía trước c ng chiều. Hậu quả, chị V Thị phải đi cấp cứu tại bệnh viện tỉnh Hòa Bình, bệnh viện Việt Đức và tử vong c ng ngày; ông Trần Văn B bị thương phải đi khám và điều trị tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình; xe m t Honda Vision BKS 28H1- 40081 của bị hại V Thị và xe ô tô BKS 30F-007.68 bị thiệt hại.

Kết quả khám nghiệm hiện trường, phương tiện xác định đoạn đường xảy ra tai nạn là đoạn đường thẳng, đường dải nhựa có chiều rộng là 07m. Lấy mép đường bên phải hướng đường Hòa Bình - đường Lê Thánh T ng làm mép đường chuẩn, lấy cột mốc 6/6 làm mốc hiện trường. Toàn bộ đường cày, đường trư t từ dấu vết ký hiệu số 1 - 6 có điểm đầu hướng đường Hòa Bình, điểm cuối hướng đường Lê Thánh T ng. Mặt ngoài ch n b n phía trước để lại vết tì trư t cà xước có hướng từ trước về sau, từ trái qua phải diện 5x10 cm. Khớp nối lốc máy gầm xe để lại vết tì trư t cà xước làm lộ ánh kim loại tr ng sáng hướng từ trước về sau, diện (3,5x20,5)cm.

Kết quả khám nghiệm xe t BKS 30F-007.68 sau tai nạn để lại những vết như sau: Mặt ngoài bên trái Ba đơ xốc phía sau để lại vết tì trư t, thủng rách diện 30x35 cm; Tai xe phía sau bên trái bị móp méo diện 40x20)cm.

Ngày 06/6/2023, cơ quan Cảnh sát điều tra C ng an thành phố H đã ra Quyết định trưng cầu giám định pháp y tử thi đối với bà V Thị , sinh năm 1986, trú tại: T 4, phường H, thành phố Hoà Bình, tỉnh Hòa Bình. Tại Bản kết luận giám định tử thi số 76/KLGĐTT-PC09-CAT ngày 09/6/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự C ng an tỉnh Hoà Bình kết luận: Nạn nhân V Thị bị chấn thương v ng đầu, mặt, lưng, th t lưng, m ng, tay, chân do tác động va đập b i vật tày, r n gây nên các t n thương: v xương hộp sọ và nhiều vết xây sát, xước da, bầm tím, trên cơ thể nạn nhân. Kết luận: Nạn nhân chết do chấn thương sọ não.

Kết luận giám định số 4326/KL-KTHS của Viện khoa học hình sự Bộ C ng an ngày 13/6/2023: Trong m u máu thu của Lường Văn T gửi giám định kh ng tìm thấy ethanol cồn .

Kết luận giám định số 4311/KL-KTHS của Viện khoa học hình sự Bộ C ng an ngày 19/6/2023: Kh ng tìm thấy chất ma túy và sản phẩm chuyển hóa của chất ma túy trong m u máu gửi giám định.

Kết luận giám định t n thương trên cơ thể sống số 162/KLTTCT-TTPY ngày 29/6/2023 của Trung tâm pháp y S y tế tỉnh Hòa Bình đối với ng Trần Văn B: Gãy xương đòn trái, tràn khí màng ph i, các vết sẹo, vết sây sát tr t da trên cơ thể xác định t lệ phần trăm t n thương cơ thể là 29 tại thời điểm giám định.

Tại Bản kết luận giám định số 308/KL-KTHS ngày 12/7/2023 của phòng kỹ thuật hình sự C ng an tỉnh Hòa Bình 01 phong bì niêm phong nguyên vẹn một mặt có ghi "Camera vụ TNGT t 8 Hữu Nghị" kết luận:" Kh ng phát hiện dấu vết c t ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong tệp video gửi giám định".

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 142/KL-HĐĐGTS ngày 19/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự thành phố Hòa Bình đối với xe m t BKS 28H1-400.81 nhãn hiệu HONDA số loại:Vision, số khung: 5818JY007228, số máy: JF66E1087128, kết luận: “T ng giá trị các tài sản là; 2.750.000đ (hai triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng)".

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 144/KL-HĐĐGTS ngày 19/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự thành phố Hòa Bình đối với xe ô tô BKS 30F-007.68 nhãn hiệu Huyndai, số loại: Grand I10 Sedan 1.2 MT Base, màu sơn: vàng. kết luận thiệt hại: “T ng giá trị các tài sản là; 1.000.000đ (một triệu đồng)".

Bản cáo trạng số 104/CT-VKS ngày 14/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh Hòa Bình truy tố bị cáo Lường Văn T về Tội vi ph m quy đ nh tham gia giao thông” theo điểm a khoản 1 điều 260 Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo ph h p với các chứng cứ khác có trong hồ sơ, ph h p với nội dung của bản Cáo trạng.

B cáo Lư ng Văn T nh n toàn bộ hành vi ph m tội và hông êu oan, đề nghị đư c hư ng hình phạt t nhưng cho hư ng án treo vì thấy bản thân mình lần đầu phạm tội, là lao động chính trong gia đình, hoàn cảnh kinh tế khó khăn xin đư c tại ngoại để lao động kiếm tiền nu i hai con nh , cấp dư ng nu i con bị hại và trả n do gia đình đã đứng ra vay mư n để bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại; bồi thường thiệt hại cho ng Trần Văn B. Đối với chiếc xe t tên đăng ký xe thuộc quyền s hữu của anh Xa Quý L là em v của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho anh Xa Quý L để bị cáo và anh Xa Quý L tự th a thuận về quyền s hữu tài sản. Bị cáo tự nguyện nhận trách nhiệm, ngh a vụ bồi thường thiệt hại đối với mọi thiệt hại mình gây ra.

Ngư i đư c ủy quy n của nh ng ngư i đ i diện theo pháp lu t của b h i (bà V Th H): Có đơn và tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, áp dụng mức hình phạt thấp nhất có thể đối với bị cáo, cho bị cáo hình phạt t nhưng hư ng án treo để bị cáo có điều kiện cải tạo, tiếp tục thực hiện ngh a vụ bồi thường thiệt hại và cấp dư ng nu i hai con nh của bị hại V Thị .

Ngư i c quy n l i, ngh a v liên quan trong v án hình s (ch Xa Th L): Số tiền bị cáo Lường Văn T tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại là tiền của chị Xa Thị L vay mư n để bồi thường thiệt hại nh m giải quyết khó khăn cho gia đình bị hại. Là v của bị cáo Lường Văn T nên chị Xa Thị L có nguyện vọng bị cáo sau khi đư c trả tự do s thực hiện trách nhiệm trả n khoản tiền này. Tuy nhiên chị muốn đư c tự th a thuận giải quyết trong gia đình với Lường Văn T nên kh ng yêu cầu Hội đồng xét xử giải quyết trong vụ án này.

Ngư i c quy n l i ngh a v liên quan trong v án hình s (anh Xa Qu L): Xác nhận là người đứng tên chủ s hữu h p pháp tài sản 01 (một) chiếc xe tô BKS: 28A- 170.57, nhãn hiệu Toyota, số loại Vios, màu sơn tr ng, số khung RL4B28F39N5170551, số máy 2NRSX927850, tên đăng ký chủ xe Xa Quý L, sinh năm 1995, trú tại: Xóm M , xã Tu Lý, huyện Đ, tỉnh Hoà Bình. Tuy nhiên đây là tài sản anh đứng ra đứng tên cho bị cáo Lường Văn T là anh rể và thế chấp tai sản vay ngân hàng. Đề nghị Hội đồng xét xử trả xe cho anh Xa Quý L như bị cáo đề nghị tại phiên tòa. Anh Xa Quý L và Lường Văn T tự th a thuận về vấn đề dân sự quyền s hữu liên quan đến xe t này. Kh ng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết quyền s hữu đối với chiếc xe tô BKS: 28A- 170.57.

T i phiên tòa đ i diện Viện iểm sát nhân dân thành ph H th c hiện quy n công t gi nguyên quy t đ nh truy t như nội dung bản Cáo tr ng và lu n tội đ i v i b cáo:

Nguyên nhân xảy ra tai nạn giao th ng là do bị cáo Lường Văn T kh ng làm chủ tốc độ, kh ng giữ khoảng cách an toàn với xe đi phía trước khi tham gia giao thông, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội là nghiêm trọng, l i hoàn toàn thuộc về bị cáo. Bị cáo kh ng có tình tiết tăng nặng; Có tình tiết giảm nhẹ: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tích cực bồi thường thiệt hại kh c phục hậu quả, bị cáo đầu thú, là lao động chính trong gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, đại diện theo pháp luật của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo lần đầu phạm tội. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lường Văn T từ 24 (hai mươi b n) đến 30 (ba mươi) tháng t về “Tội vi phạm quy định về tham gia giao th ng đường bộ” nhưng cho hư ng án treo; kh ng áp dụng hình phạt b sung đối với bị cáo.

Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự về xử lý vật chứng:

- Trả lại cho anh Xa Quý L 01 (một) chiếc xe t BKS: 28A- 170.57, nhãn hiệu Toyota, số loại Vios, màu sơn tr ng, số khung RL4B28F39N5170551, số máy 2NRX927850 (tên đăng ký chủ xe Xa Quý L, sinh năm 1995, trú tại: Xóm M , xã Tu Lý, huyện Đ, tỉnh Hoà Bình do anh Xa Quý L là chủ s hữu theo pháp luật và kh ng biết việc bị cáo sử dụng xe t gây tai nạn;

- Trả lại cho người đại diện theo pháp luật của bị hại V Thị là anh Trần Thanh T chồng của bị hại ) 01 (một) xe mô tô BKS 28H1- 400.81, nhãn hiệu HONDA, số loại: VISION, màu sơn đ nâu, số khung: RLHJF5818JY007228, số máy: JF66E108728, tên đăng ký chủ xe là chị V Thị , tình trạng đã qua sử dụng.

Tất cả các vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H.

Trả lại cho bị cáo Lường Văn T các tài liệu, chứng cứ hiện lưu giữ theo hồ sơ vụ án gồm:

- 01 (một) giấy phép lái xe hạng B2 số: 170122002450 mang tên Lường Văn Tuấn;

- 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ m i trường pH tiện giao th ng cơ giới đường bộ ký hiệu No: DA 3098847 của pH tiện t con Toyota Vios biển đăng ký 28 -170.57 cấp ngày 15/10/2022;

- 01 (một) Giấy chứng nhận bảo hiểm b t buộc tên chủ xe Xa Quý L cấp ngày 11/10/2022;

- 01 (một) chứng minh nhân dân số 113539805 do giám đốc C ng an tỉnh Hòa Bình cấp ngày 10/10/2018;

- 01 (một) Giấy biên nhận thế chấp số 8202718.22 ngày 24/10/2023 tên bên thế chấp Xa Quý L.

Về trách nhiệm dân sự:

Đại diện theo ủy quyền của những người đại diện h p pháp của bị hại và bị cáo c ng gia đình bị cáo đã th a thuận thống nhất bồi thường thiệt hại vật chất và t n thất tinh thần cho những người thừa kế theo pháp luật thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bị hại t ng cộng số tiền 150.000.000đ (một trăm năm mươi triệu đồng) và th a thuận bị cáo Lường Văn T có ngh a vụ cấp dư ng cho con của bị hại là cháu Trần Bảo Ng sinh ngày 05/10/2011 và Trần Bảo H, sinh ngày 30/01/2021 số tiền 2.000.000 (hai triệu) đồng/ tháng m i cháu 1.000.000 (một triệu) đồng/ tháng kể từ tháng 7 năm 2023 cho đến khi các cháu đủ 18 tu i hoặc thay đ i theo quy định của pháp luật về cấp dư ng.

Đ i v i nguyên đơn dân s là ông Tr n Văn B có đơn đề nghị xét xử v ng mặt và nộp cho Tòa án biên bản ghi nhận th a thuận đồng ý cho bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại vật chất và t n thất tinh thần số tiền 10.000.000 (mư i triệu) đồng. Tại phiên tòa bị cáo đồng ý có ngh a vụ bồi thường thiệt hại số tiền nêu trên cho ông Trần Văn B, nên đề nghị Hội đồng xét xử buộc Lường Văn T có ngh a vụ thực hiện.

Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 584, 585; khoản 1 Điều 586; Điều 590, 591, khoản 2 Điều 593 Bộ luật dân sự ghi nhận sự thuận của các đương sự.

Đối với thiệt hại về vật chất của chủ xe ô tô BKS 30F-007.68 nhãn hiệu Huyndai là Trần Bảo Hành Đ , do thiệt hại giá trị nh , đại diện theo ủy quyền của C ng ty là ng Phạm Xuân Toàn kh ng có yêu cầu bồi thường và có đơn từ chối xếp tư cách tố tụng trong vụ án nên đề nghị Hội đồng xét xử kh ng đề cập giải quyết.

Đối với người có quyền l i ngh a vụ liên quan chị Xa Thị L đã nêu quan điểm về số tiền 100.000.000 (một trăm triệu đồng) vay mư n để thay mặt bị cáo Lường Văn T bồi thường thiệt hại khi bị cáo bị tạm giam. Tại phiên tòa bị cáo nhận trách nhiệm phải trả số tiền này, chị Ly và bị cáo xin đư c tự th a thuận không đề nghị xem xét, nên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H đề nghị Hội đồng xét xử kh ng xem xét giải quyết trong vụ án này.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự, án phí dân sự theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện theo ủy quyền của bị hại; Người có quyền, ngh a vụ liên quan; nguyên đơn dân sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Lường Văn T đồng ý về tội danh, mức hình phạt của mình theo bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát, kh ng có ý kiến tranh luận.

Người đư c ủy quyền của những người đại diện theo pháp luật của bị hại - bà V Thị H, người có quyền l i, ngh a vụ liên quan trong vụ án: Chị Xa Thị L, anh Xa Quý L kh ng có ý kiến tranh luận.

Đại diện Viện kiểm sát kh ng có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau c ng của bị cáo: Bị cáo đã nhận thức rõ hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật. Do bị cáo v ý gây ra hậu quả nghiêm trọng nên mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo đư c hư ng hình phạt t nhưng cho hư ng án treo để bị cáo cải tạo, r n luyện, tu dư ng bản thân, có điều kiện ngoài xã hội lao động nu i con nh , cấp dư ng nu i con bị hại, tiếp tục bồi thường thiệt hại, tr thành c ng dân tốt, có ích cho xã hội.

N ẬN ĐỊN CỦA ÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung v án căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã đư c tranh t ng t i phiên tòa Hội đồng xét xử nh n thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác kh ng có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện h p pháp.

[2]. Về hành vi của bị cáo: Tại cơ quan điều tra c ng như tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo ph h p với Sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao th ng, Biên bản khám nghiệm hiện trường, Biên bản khám nghiệm tử thi, Kết luận giám định pháp y và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ s kết luận: Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 06/6/2023 Lường Văn T điều khiển xe m t xe ô tô BKS: 28A-170.57, nhãn hiệu Toyota, số loại Vios (T đã có giấy phép lái xe hạng B2 theo qui định , đi theo hướng từ đường Hữu Nghị đến đường Lê Thánh T ng, khi đi đến địa phận t 8, phường Hữu Nghị, thành phố H, tỉnh Hòa Bình do điều khiển xe kh ng làm chủ tốc độ và kh ng giữ khoảng cách an toàn với xe đi trước c ng chiều nên Lường Văn T đã đâm vào xe m t biển kiểm soát 28H1 – 400.81 do ông Trần Văn B, sinh năm 1960 ch chị V Thị , sinh năm 1986, c ng trú tại T 4, phường H, thành phố H, tỉnh Hòa Bình, hậu quả: ng Bình bị t n tH cơ thể 29 và chị V Thị tử vong.

Xét hành vi của bị cáo Lường Văn T đã vi phạm vào khoản 5 Điều 4; Khoản 1 Điều 12 Luật giao th ng đường bộ; khoản 2 Điều 5 Th ng tư số 31/2019/TT-BGTVT, đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao th ng đường bộ” đư c quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh Hòa Bình đã truy tố và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

[3]. Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, xâm phạm đến trật tự an toàn giao th ng đường bộ, gây hậu quả nghiêm trọng đến tính mạng con người. Hành vi của bị cáo ảnh hư ng kh ng nh đến trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy cần có mức án nghiêm kh c đối với bị cáo nh m giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung. Tuy nhiên, bị cáo là người lần đầu phạm tội, mặc d hoàn cảnh gia đình khó khăn nhưng đã tác động gia đình tích cực bồi thường thiệt hại, gia đình bị hại có đơn xin cho bị cáo đư c hư ng mức án thấp nhất và cho bị cáo đư c hư ng hình phạt t có điều kiện - án treo để bị cáo ngoài xã hội lao động nu i con nh và cấp dư ng nu i các con của bị hại, do vậy Hội đồng xét xử nhận thấy kh ng cần thiết phải cách ly bị cáo ngoài đời sống xã hội là nhân văn và đảm bảo ý ngh a của hình phạt,thể hiện hiện sự nhận đạo, khoan hồng trong thực hiện quy định pháp luật của Nhà nước.

Khi lư ng hình xét thấy: Trong quá trình điều tra c ng như tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Mặc d gia đình hoàn cảnh khó khăn, bị cáo đã tác động gia đình vay mư n để tích cực bồi thường thiệt hại số tiền 100.000.000VND (một trăm triệu đồng) trong giai đoạn điều tra và giai đoạn chuẩn bị xét xử. Bị cáo và người đại diện theo pháp luật của bị cáo đã th a thuận với gia đình bị hại tự nguyện tiếp tục thực hiện ngh a vụ bồi thường thiệt hại số tiền 50.000.000VND (năm mươi triệu đồng); Tự nguyện th a thuận với nguyên đơn dân sự là ng Trần Văn B bồi thường thiệt hại về sức kh e, tinh thần số tiền 10.000.000 (mư i triệu) đồng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 điều 51 BLHS. Bị cáo tự giác ra đầu thú, đại diện theo ủy quyền của những người đại diện theo pháp luật của bị hại và gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt và đề nghị cho bị cáo hư ng hình phạt t nhưng cho hư ng án treo, bị cáo lần đầu phạm tội, bị cáo có xác nhận của chính quyền địa pH về hoàn cảnh khó khăn và là lao động chính trong gia đình, Hội đồng xét xử xem xét là những tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự khi lư ng hình.

Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng tại tiểu khu Bờ, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình nên HĐXX xem xét cho bị cáo hư ng hình phạt t có điều kiện c ng đảm bảo việc quản lý, giáo dục, cải tạo bị cáo thành c ng dân tốt.

Tuy nhiên, do phạm tội nghiêm trọng, nh m đảm bảo tính nghiêm minh, ý ngh a giáo dục và c ng tác tuyên truyền, ph biến pháp luật, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng mức hình phạt nghiêm kh c theo quy định của Bộ luật hình sự nh m nâng cao ý thức trách nhiệm và là bài học sâu s c cho bị cáo.

[4]. Về hình phạt b sung: Bị cáo kh ng có thu nhập n định nên không áp dụng hình phạt b sung đối với bị cáo.

[5]. Về xử lý vật chứng: Cần áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Trả lại cho anh Xa Quý L 01 (một) chiếc xe t BKS: 28A- 170.57, nhãn hiệu Toyota, số loại Vios, màu sơn tr ng, số khung RL4B28F39N5170551, số máy 2NRX927850 (tên đăng ký chủ xe Xa Quý L, sinh năm 1995, trú tại: Xóm M , xã Tu Lý, huyện Đ, tỉnh Hoà Bình) do anh Xa Quý L là chủ s hữu theo pháp luật và tại phiên tòa bị cáo đồng ý giao trả xe cho anh Xa Quý L;

- Trả lại cho người đại diện theo pháp luật của bị hại V Thị là ng Trần Thanh T chồng của bị hại 01 (một) xe mô tô BKS 28H1- 400.81, nhãn hiệu HONDA, số loại: VISION, màu sơn đ nâu, số khung: RLHJF5818JY007228, số máy: JF66E108728, tên đăng ký chủ xe là chị V Thị , tình trạng đã qua sử dụng.

Tất cả các vật chứng trên hiện lưu giữ lại kho vật chứng Cơ quan thi hành án dân sự thành phố H, tỉnh Hòa Bình theo biên bản giao nhận vật chứng số 108/BB ngày 20/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H ngày 20/9/2023.

Trả lại cho bị cáo Lường Văn T:

- 01 một Giấy phép lái xe hạng B2, số/No: 170122002450 do Giám đốc S giao th ng vận tải cấp ngày 26/12/2016;

- 01 một Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ m i trường pH tiện giao th ng cơ giới đường bộ ký hiệu No: DA 3098847 của pH tiện ô tô con Toyota Vios biển đăng ký 28A-170.57 cấp ngày 15/10/2022;

- 01 một Chứng minh nhân dân số 113539805 mang tên Lường Văn T do giám đốc C ng an tỉnh Hòa Bình cấp ngày 10/10/2018;

- 01 một Giấy chứng nhận bảo hiểm b t buộc tên chủ xe Xa Quý L cấp ngày 11/10/2022;

- 01 một Giấy biên nhận thế chấp ngân hàng VIB số: 82022718.22/VIB;

Các tài liệu, chứng cứ trên hiện lưu giữ theo Hồ sơ vụ án.

[6] . Về trách nhiệm dân sự:

Đại diện theo ủy quyền h p pháp của những người đại diện theo pháp luật của bị hại - chị V Thị H và v bị cáo là chị Xa Thị L c ng với bị cáo đã th a thuận thống nhất bị cáo có ngh a vụ bồi thường thiệt hại cho những người đại diện theo pháp luật của bị hại t ng cộng số tiền 150.000.000đ (Một trăm năm mươi triệu đồng Đã bồi thư ng xong 100.000.000 một trăm triệu đồng, còn phải tiếp tục bồi thường tiếp 50.000.000 (Năm mươi triệu) đồng và bồi thường thiệt hại cho ng Trần Văn B số tiền 10.000.000 (mư i triệu) đồng kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật. Tại phiên tòa bị cáo đồng ý với th a thuận và nhận trách nhiệm thực hiện ngh a vụ bồi thường như trên. Th a thuận này hoàn toàn ph h p với quy định tại Bộ luật dân sự 2015. Do vậy Hội đồng xét xử cần căn cứ vào khoản 1 Điều 584, 585; khoản 1 Điều 586; Điều 590, 591, khoản 2 Điều 593 Bộ luật dân sự ghi nhận sự thuận của các đương sự.

Số tiền 100.000.000đ (một trăm triệu) đồng chị Xa Thị L v bị cáo Lường Văn T) đã thay mặt bị cáo bồi thường thiệt hại cho người đại diện theo pháp luật của bị hại, chị Ly xin đư c tự th a thuận kh ng yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét giải quyết nên Hội đồng xét xử kh ng đề cập giải quyết.

[7]. Về những vấn đề khác:

C ng ty c phần thương mại và dịch vụ Th bị thiệt hại nh do bị va quệt vào đu i xe t biển kiểm soát 30F-007.68 là tài sản thuộc quyền s hữu của Công ty. Tuy nhiên tại giai đoạn chuẩn bị xét xử, đại diện theo ủy quyền của C ng ty là ng Phạm Xuân Toàn có đơn đề nghị kh ng xếp tư cách tố tụng và C ng ty c phần thương mại và dịch vụ Th kh ng có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử kh ng xác định tư cách tố tụng và kh ng đề cập giải quyết về trách nhiệm dân sự của bị cáo đối với C ng ty c phần thương mại và dịch vụ Th.

[8]. Về án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Bị cáo; Người đư c đại diện theo ủy quyền của những người đại diện h p pháp của bị hại; Nguyên đơn dân sự; Người có quyền l i, ngh a vụ trong vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾ ĐỊN :

Căn cứ điểm a khoản 1 điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự;

1.Tuyên bố bị cáo Lường Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao th ng đường bộ”

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lường Văn T 02 (hai) năm tù nhưng cho hư ng án treo, thời gian thử thách là 04 (b n) năm, thời hạn t tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 29/9/2023.

Giao bị cáo Lường Văn T cho U ban nhân dân thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường h p người đư c hư ng án treo thay đ i nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68, 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người đư c hư ng án treo cố ý vi phạm ngh a vụ 02 lần tr lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đư c hư ng án treo phải chấp hành hình phạt t của bản án đã cho hư ng án treo.

Kh ng áp dụng hình phạt b sung đối với bị cáo.

3. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Trả lại cho anh Xa Quý L 01 (một) chiếc xe t BKS: 28A- 170.57, nhãn hiệu Toyota, số loại Vios, màu sơn tr ng, số khung RL4B28F39N5170551, số máy 2NRX927850, tình trạng xe c đã qua sử dụng thu giữ của Lường Văn T. Tình trạng xe: phần đầu của xe t và đ n phía trước xe, kính ch n gió của xe bị nứt v , n p ca b phía trước của xe t bị móp méo do xe bị tai nạn, kh ng giao nhận giấy tờ xe, kh ng kiểm tra tình trạng xe bên trong;

- Trả lại cho người đại diện theo pháp luật của bị hại V Thị là anh Trần Thanh T chồng của bị hại 01 (một) xe mô tô BKS 28H1- 400.81, nhãn hiệu HONDA, số loại: VISION, màu sơn đ nâu, số khung: RLHJF5818JY007228, số máy: JF66E108728, xe đã qua sử dụng, xe thu giữ của chị V Thị . Khu giao nhận phần ốp nhựa xe bên phải kh ng có, toàn bộ phần v nhựa và thân xe xe náy đã bị nứt v , móp méo, cong vênh nhiều ch do xe bị tai nạn, kh ng giao nhận giấy tờ và chìa khóa xe, kh ng kiểm tra tình trạng xe.

Tất cả các vật chứng trên hiện lưu giữ lại kho vật chứng Cơ quan thi hành án dân sự thành phố H, tỉnh Hòa Bình theo biên bản giao nhận vật chứng số 108/BB ngày 20/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H ngày 20/9/2023.

Trả lại cho bị cáo Lường Văn T:

- 01 (một) Giấy phép lái xe hạng B2, số/No: 170122002450 do Giám đốc S giao th ng vận tải cấp ngày 26/12/2016;

- 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ m i trường pH tiện giao th ng cơ giới đường bộ ký hiệu No: DA 3098847 của pH tiện t con Toyota Vios biển đăng ký 28A-170.57 cấp ngày 15/10/2022;

- 01 (một) Chứng minh nhân dân số 113539805 mang tên Lường Văn T do giám đốc C ng an tỉnh Hòa Bình cấp ngày 10/10/2018;

- 01 (một) Giấy chứng nhận bảo hiểm b t buộc tên chủ xe Xa Quý L cấp ngày 11/10/2022;

- 01 (một) Giấy biên nhận thế chấp số 8202718.22 ngày 24/10/2023 tên bên thế chấp Xa Quý L.

Các tài liệu, chứng cứ trên hiện lưu giữ theo hồ sơ vụ án.

4. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584, 585; khoản 1 Điều 586; Điều 590, 591, khoản 2 Điều 593 Bộ luật dân sự:

C ng nhận sự th a thuận của bị cáo Lường Văn T và đại diện theo ủy quyền của những người đại diện theo pháp luật của bị hại: Bị cáo Lường Văn T có ngh a vụ bồi thường thiệt hại cho những người đại diện theo pháp luật thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bị hại số tiền 150.000.000 (một trăm năm mươi triệu) đồng. Xác nhận chị Xa Thị L đã thay mặt bị cáo đứng ra bồi thường xong 100.000.000đ (một trăm triệu đồng). Bị cáo Lường Văn T phải tiếp tục bồi thường cho những người đại diện theo pháp luật thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bị hại anh Trần Thanh T, bà Lưu Thị V và hai con của bị hại là Trần Bảo Ng và Trần Bảo H) số tiền 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng và có ngh a vụ cấp dư ng cho con bị hại V Thị là Trần Bảo Ng sinh ngày 05/10/2011 và Trần Bảo H, sinh ngày 30/01/2021 số tiền 2.000.000 (hai triệu) đồng/ tháng m i cháu 1.000.000 đồng/ tháng kể từ tháng 7 năm 2023 cho đến khi các cháu đủ 18 tu i hoặc thay đ i theo quy định của pháp luật về cấp dư ng.

Buộc bị cáo Lường Văn T phải bồi thường thiệt hại vật chất và t n thất tinh thần cho ng Trần Văn B số tiền 10.000.000 (mư i triệu) đồng.

Kể từ ngày c đơn yêu c u thi hành án của ngư i đư c thi hành án (đ i v i hoản ti n phải trả cho ngư i đư c thi hành án) cho đ n hi thi hành xong bên phải thi hành án còn phải ch u hoản ti n lãi của s ti n còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy đ nh t i Đi u 357 Đi u 468 của Bộ lu t dân s 2015 trừ trư ng h p pháp lu t c quy đ nh hác

5. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Lường Văn T phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 3.300.000 (ba triệu ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự trong đó 3.000.000 đồng án phí dân sự đối với ngh a vụ bồi thường thiệt hại và 300.000 đồng đối với án phí cấp dư ng .

6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Bị cáo; người đại diện theo ủy quyền của những người đại diện theo pháp luật của bị hại; người có quyền l i, ngh a vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nguyên đơn dân sự v ng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đư c bản án hoặc bản án đư c niêm yết c ng khai theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ