vanban.org

Bản án 114/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 25/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo La Văn D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Khoản 1, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự; Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự: Xử phạt bị cáo La Văn D 28 (Hai mươi tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/12/2022. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "La Văn D mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 201…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo La Văn D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TN
TỈNH THÁI NGUYÊN
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 114/2023/HS-ST
Ngày: 25/4/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TN, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Liên

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Liên Minh và ông Hạng Minh Thu

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Huyền– Thư ký Tòa án nhân dân thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Phùng Thị Kim Oanh - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2023, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 62/2023/TLST-HSST ngày 10 tháng 3năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 91/2023/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: La Văn D - Sinh ngày 09 tháng 6 năm 2001.

Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam.

Nơi cư trú: Xóm TĐ, xã TK, huyện PB, tỉnh Thái Nguyên

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Không. Con ông: La Văn P, sinh năm 1968; Con bà: Dương Thị H, sinh năm 1969. Đều trú tại: Xóm TĐ, xã TK, huyện PB, tỉnh Thái Nguyên. Vợ, con: chưa có. Tiền án, tiền sự: Không.

Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên (Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/12/2022 đến nay). Có mặt tại phiên tòa.

Người chứng kiến: Ông Nhữ Quang C, sinh năm 1983; Nơi cư trú: Tổ 9, phường TT, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 16 giờ 30 phút ngày 22/12/2022, tổ công tác của Công an phường TT, thành phố TN làm nhiệm vụ tại khu vực tổ 9 của phường thì phát hiện 01 nam thanh niên có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra, nam thanh niên trên khai tên là La Văn D và tự giác lấy ra từ trong ống tay áo khoác bên pH D đang mặc 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa 01 viên nén màu xám và 02 túi nilon màu trắng bên trong mỗi túi đều chứa chất tinh thể màu trắng giao nộp cho tổ công tác. D khai đó là ma túy kẹo và ma túy tổng hợp Ketamine của D mang theo để bán kiếm lời. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với D, thu giữ vật chứng theo quy định. Ngoài ra, tổ công tác còn tạm giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh của D.

Hồi 19h00’ ngày 22/12/2022, Cơ quan điều tra tiến hành cân xác định:Toàn bộ viên nén màu xám thu giữ của D có khối lượng 0,397 gam, lấy mẫu gửi đi giám định ký hiệu D1. Toàn bộ số chất tinh thể màu trắng thu giữ của D có khối lượng 1,760 gam, lấy mẫu gửi đi giám định ký hiệu D2.

Tại bản Kết luận giám định số 115/KL - KTHS ngày 31/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận:

Mẫu viên nén màu xám trong niêm P ký hiệu D1 gửi giám định là chất ma túy, loại MDMA. Khối lượng thu giữ ban đầu là 0,397 gam.

Mẫu chất tinh thể màu trắng trong niêm P ký hiệu D2 gửi giám định là chất ma túy, loại Ketamine. Khối lượng thu giữ ban đầu là 1,760 gam.

*Vật chứng của vụ án:

- 03 bì niêm P ký hiệu D1, D2, D3.

- 01 bì niêm P ký hiệu D4 bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu xanh, đã qua sử dụng.

Hiện đang được bảo quản và lưu giữ tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên chờ xử lý.

Tại bản cáo trạng số 72/CT-VKSTPTN ngày 10/3/2023 , Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố La Văn D về tội“Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, nhất trí nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN. Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo La Văn D từ 2 năm đến 2 năm 6 tháng tù; Phạt bổ sung bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước; Xử lý vật chứng và buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận, thừa nhận việc truy tố, xét xử là đúng người đúng tội, không oan. Bị cáo nói lời sau cùng, xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét khách quan toàn bộ các chứng cứ, ý kiến đề nghị của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố TN, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét về hành vi của bị cáo thấy rằng: Tại phiên tòa La Văn D khai nhận: Khoảng 21 giờ ngày 19/12/2022, D đi bộ từ phòng trọ thuộc xóm NH, xã QT, thành phố TN ra đoạn đường dân sinh của xóm NH mua 01 túi nilon chứa 05 viên ma túy kẹo màu xám và 01 túi nilon chứa 04 túi nilon màu trắng bên trong mỗi túi đều chứa ma túy ketamine dạng tinh thể màu trắng của 01 nam thanh niên không quen biết với giá 6.000.000 đồng. Mua xong, D mang số ma túy trên về phòng trọ cất giấu. Sau đó, D đã sử dụng hết 04 viên ma túy Kẹo và 02 túi ma túy Ketamine. Đến khoảng 16 giờ 20 phút ngày 22/12/2022, D mang theo số ma túy còn lại, bao gồm: 01 viên ma túy Kẹo đựng trong túi nilon màu trắng và 02 túi nilon màu trắng đều chứa ma túy Ketamine, cất giấu trong túi áo khoác bên phải D đang mặc rồi đi taxi từ nhà trọ đến khu vực đường dân sinh thuộc tổ 9, phường TT, thành phố Thái Nguyên để bán ma túy kiếm lời. Khi D chưa kịp bán thì bị tổ công tác của Công an phường TT, thành phố TN phát hiện, bắt quả tang.

Lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định.

Như vậy hành vi mua 1,760 gam ma túy loại Ketamine và 0,397gam ma túy loại MDMA mục đích để bán kiếm lời của La Văn D đã phạm tội mua bán trái phép chất ma túy phạm vào khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.

Do đó bị cáo pH chịu hình phạt mà điều luật đã quy định.

Xét tính chất hành vi phạm tội thấy rằng: Hành vi của bị cáo có tính chất nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền các chất ma túy của Nhà nước, làm mất trật tự trị an tại địa phương làm gia tăng các tệ nạn về ma túy, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân. Ngoài ra, hành vi của bị cáo còn là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác. Nên cần có hình phạt tương xứng với tội trạng của bị cáo gây ra để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét nhân thân của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo chưa có tiền án tiền sự có nhân thân tốt nên không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải, vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về hình phạt: Sau khi đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên đề xuất mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nhằm mục đích thu lời bất chính do đó cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

Về vật chứng: Cần tịch thu tiêu hủy 03 bì niêm P ký hiệu D1, D2, D3. Tạm giữ 01 bì niêm P ký hiệu D4 bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu xanh, đã qua sử dụng để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.

Về án phí: Bị cáo pH chịu án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước.

Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ, D khai mua của 01 nam thanh niên không quen biết tại khu vực xóm Nước Hai, xã QT, thành phố TN. Qúa trình điều tra không xác định được lai lịch địa chỉ của người này. Do vậy, Cơ quan điều tra không có cơ sở điều tra làm rõ để xử lý.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo La Văn D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Khoản 1, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự; Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự:

1. Xử phạt bị cáo La Văn D 28 (Hai mươi tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/12/2022. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.

Phạt bổ sung bị cáo La Văn D 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) sung quỹ Nhà nước.

2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 03 bì niêm P ký hiệu D1, D2, D3.Tạm giữ 01 bì niêm P ký hiệu D4 bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu xanh, đã qua sử dụng để đảm bảo thi hành án cho bị cáo (đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng số 396 ngày 10/4/2023 giữa Công an thành phố TN với Chi cục thi hành án dân sự thành phố TN).

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết 326/2016/QH ngày 30/12/2016 quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước.

Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án

Cỡ chữ